CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Trình bày về tổng quan đề tài, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và đóng góp của đề tài. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Tại chương này, tác giả trình bày những cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến nợ xấu của các NHTM. Ngoài ra, tại chương 2, tác giả dựa giới thiệu các bài nghiên cứu trước đó để tạo tiền đề cho việc lập mô hình cho chương 3. CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tại chương này, tác giả trình bày cụ thể các mô hình, các biến, quy trình và phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở được nêu tại chương 2.
Tạo tiền đề cho việc phân tích các kết quả đạt được cho chương 4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Tác giả trình bày các kết quả đạt được thông qua việc chạy mô hình với phần mềm stata 15. Từ đó, loại bỏ các biến không có ý nghĩa thống kê để đưa ra một mô hình có ý nghĩa cụ thể và thảo luận dựa trên mô hình đã được tổng hợp. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Tại chương này, tác giả đưa ra kết luận tổng quan cho bài nghiên cứu từ đó đưa ra một vài khuyến nghị nhằm giảm tác động của NPL đối với NTHM.
Ngoài ra, tác giả đưa ra nhận xét về một vài khía cạnh chưa thực hiện tốt của bài nghiên cứu và gợi ý một vài hướng đi mới cho cá c nghiên cứu sau này. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NỢ XẤU 2. Nợ xấu Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thực hiện huy động vốn từ các chủ thể thừa vốn để cấp tín dụng cho các chú thể thiếu vốn trong nền kinh tế (Bùi Diệu Anh, 2013).
Với chức năng vượt trội là huy động tiền gửi (thông qua nhận tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; thực hiện nghiệp vụ chiết khấu; dịch vụ thanh toán; huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ tiền gửi.), hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại ngày càng trở nên mạnh mẽ. Dựa vào giáo trình Nghiệp vụ Tín dụng Ngân hàng (2011) thì “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng về tài sản (vốn) giữa bên cho vay (ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tái sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn”. Tín dụng doanh nghiệp là một nghiệp vụ của tín dụng ngân hàng, trong đó, ngân hàng chuyển quyền sử dụng tài sản cho doanh nghiệp sử dụng trong một khoảng thời gian xác định và sau đó, khách hàng doanh nghiệp phải hoàn trả gốc và lãi theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng (Bùi Diệu Anh, 2013). Trong thực tế, tín dụng doanh nghiệp đóng góp một phần quan trọng trong cơ cấu tín dụng ngân hàng, không chỉ đóng góp lợi nhuận nhờ vào chênh lệch lãi suất huy động và cho vay, mà còn liên quan đến các mảng phí dịch vụ khác.
Theo Bùi Diệu Anh (2020), những biến cố không chắc chắn xảy ra trong hoạt động tín dụng được coi là rủi ro tín dụng. Trong quá trình cho vay, việc gặp phải các rủi ro đáo hạn có thể dẫn đến sự suy giảm lợi nhuận của ngân hàng và làm giảm giá trị thương hiệu của ngân hàng đó. RRTD được xem là loại rủi ro thuần túy; một khi nó xảy ra, việc tổn thất về khả năng sinh lời là điều không thể tránh khỏi. Ngoài ra, khi bên vay không thể thanh toán được cả vốn và lãi theo như cam kết ban đầu với ngân hàng, đó cũng được xem là một loại rủi ro tín dụng.
6 Ngân hàng, với vai trò là những cơ quan trung tâm trong hệ thống tài chính, thực hiện hoạt động kinh doanh vốn và các dịch vụ tiền tệ cho nền kinh tế, đóng góp vào sự phát triển ổn định và bền vững của quốc gia. Trong đó, hoạt động tín dụng không chỉ là nguồn thu chính mà còn là yếu tố quan trọng mang lại lợi nhuận cho các ngân hàng. Tuy nhiên, lợi nhuận từ hoạt động này không tách rời khỏi các rủi ro tài chính, đặc biệt trong lĩnh vực nhạy cảm như tiền tệ, ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Nợ xấu còn được gọi là "Non-performing loan" (NPL), "Doubtful loan," và "Bad debt" trong ngôn ngữ quốc tế, là một khái niệm phức tạp và yêu cầu sự đánh giá cẩn thận từ các quốc gia khác nhau.
Định nghĩa về nợ xấu được công bố bởi Ủy ban Basel về Giám Sát Ngân Hàng năm 2013 là một trong những định nghĩa phổ biến nhất. Theo đó, một khoản vay được coi là nợ xấu khi người vay không thể trả lại khoản vay của mình hoặc không trả khoản vay đã quá hạn hơn 90 ngày. Theo tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) định nghĩa nợ xấu dựa trên ba yếu tố chính: thời gian quá hạn, suy giảm khả năng trả nợ của người vay, và phân loại chất lượng tín dụng. Các khoản vay được xếp vào nợ xấu khi có các biểu hiện như thanh toán gốc và lãi quá hạn hơn 90 ngày, thanh toán lãi quá hạn 90 ngày hoặc hơn, và cũng khi có đủ bằng chứng để phân loại lại khoản vay ngay cả khi chưa quá hạn 90 ngày, như khi người vay nộp đơn xin phá sản.
Tương tự, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) và các quy định của IAS, nợ xấu được hiểu là các khoản vay có nguy cơ cao không sinh lời, quá hạn trả nợ trên 90 ngày, hoặc có vấn đề về việc cơ cấu lại nợ. Cũng cần lưu ý rằng trong Chuẩn mực Kế toán Quốc tế 39 (IAS 39), thuật ngữ "nợ xấu" đã bị thay thế bởi thuật ngữ "khoản tài sản bị giảm giá trị" (Impaired Assets). IAS 39 chỉ ra rằng các tài sản bị giảm giá trị và các khoản lỗ do giảm giá trị chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng khách quan để đánh giá lại khoản vay. Để cải thiện việc đánh giá nợ xấu ở nhiều quốc gia, Học viện Tài chính Quốc tế (IIF) đã đề xuất chia khoản vay thành 5 loại để báo cáo: nợ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn.
Tuy nhiên, nợ xấu thường bao gồm ba nhóm chính là nợ dưới tiêu chuẩn, nghi ngờ và có khả năng mất vốn. 7 Tại Việt Nam vào ngày 30/07/2021, quy định mới nhất về nợ xấu được ban hành về "phân loại tài sản, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động tín dụng". Theo đó, nợ xấu bao gồm ba nhóm: nợ dưới tiêu chuẩn, nghi ngờ và có khả năng mất vốn. Trong đó phân loại nợ theo Điều 6 chủ yếu dựa trên thời gian quá hạn của các khoản nợ (nhóm 3: thời gian quá hạn từ 90 –180 ngày, nhóm 4: thời gian quá hạn từ 181 – 360 ngày, nhóm 5: thời gian quá hạn trên 360 ngày).
Theo Điều 7 nợ được phân loại chủyếu dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng (nhóm 3: các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi, nhóm 4: các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao, nhóm 5: các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn có khảnăng thu hồi, chấp nhận mất vốn). Như vậy, phương pháp xác định nợ xấu được cho là toàn diện và tương đồng với quan niệm của các tổ chức trên thế giới cũng như ở Việt Nam, dựa trên hai biến số trên 90 ngày và khả năng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ của khách hàng. Tóm lại, mặc dù có sự đa dạng trong cách hiểu và định nghĩa về "nợ xấu" và chịu ảnh hưởng của quan điểm từng quốc gia, nhưng một cách tổng quát, một khoản vay được xem là nợ xấu dựa trên việc đánh giá cả hai yếu tố định lượng và định tính, bao gồm thời hạn hoàn trả quá hạn và khả năng của khách hàng không thể hoàn trả đúng hạn theo cam kết. Phân loại nợ xấu Hệ thống phân loại này hỗ trợ các ngân hàng trong việc đánh giá và dự báo rủi ro cho các khoản vay đã được giải ngân.
Đồng thời cung cấp khả năng nhìn nhận các điểm tương đồng giữa các khoản vay, từ đó tạo ra các dự phòng phù hợp nhằm bảo vệ ngân hàng khỏi các rủi ro có thể xảy ra. Ngoài ra, việc này cũng giúp ngân hàng quản lý tốt hơn các hồ sơ khách hàng hiện có bằng cách dự báo các tình huống xấu có thể xảy ra một cách kịp thời. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một tiêu chuẩn phân loại quốc tế nào được công nhận và áp dụng rộng rãi trên toàn cầu. Trên thế giới Việc phân loại nợ dựa trên tình trạng và đặc điểm tài chính của mỗi quốc gia theo Viện Tài chính Quốc tế (IIF), quy định như sau: Bảng 2.1: Phân loại nợ theo IIF Tên nhóm nợ Chi tiết Đây là nhóm nợ có mức độ rủi ro thấp nhất.
Khách hàng trong nhóm này đang duy trì việc thanh toán nợ đúng hạn và không có dấu hiệu của rủi ro tài chính Nợ tiêu chuẩn đáng kể. Các khoản vay trong nhóm này được coi là ổn định và không đòi hỏi sự can thiệp đặc biệt từ phía ngân hàng. Đây là nhóm nợ mà có một số dấu hiệu bất thường hoặc có nguy cơ không trả nợ đúng hạn trong tương lai Nợ cần chú ý gần. Các khoản nợ trong nhóm này đòi hỏi sự quan sát và theo dõi cẩn thận từ phía ngân hàng để đảm bảo rằng rủi ro được quản lý và giảm thiểu.
Đây là nhóm nợ mà có mức độ rủi ro cao hơn và có nguy cơ không được hoàn trả đúng hạn. Các khoản nợ Nợ dưới tiêu chuẩn trong nhóm này gây ra một mức độ rủi ro đáng kể cho ngân hàng và đòi hỏi sự can thiệp quyết liệt từ phía ngân hàng để giảm thiểu thiệt hại tiềm ẩn. Đây là nhóm nợ mà ngân hàng đánh giá là có nguy cơ cao không được hoàn trả đúng hạn hoặc không được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ.