CHƯƠNG 1 Nghiên cứu này tập trung vào khảo sát vấn đề khả năng thanh khoản của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong bối cảnh các thách thức từ sau khủng hoảng tài chính 2008 và đại dịch Covid-19. Sau khủng hoảng tài chính 2008 và đại dịch Covid- 19, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều vấn đề như sụt giảm chất lượng tín dụng, tăng cao nợ xấu và bất ổn về thanh khoản. Nghiên cứu này nhằm xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng trong giai đoạn 2014 – 2023 của 28 ngân hàng đã niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp nhằm tăng cường khả năng thanh khoản và ổn định hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần. Phương pháp nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy OLS, REM và FEM và các mô hình hồi quy nhằm xác nhận tính chính xác của các kết quả.
Nghiên cứu hy vọng góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh và đảm bảo sự ổn định của ngành Ngân hàng Việt Nam. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Cơ sở lý thuyết về khả năng thanh khoản ngân hàng Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), dưới góc độ tài sản, thanh khoản là khả năng chuyển hóa tài sản thành tiền, được đo bằng thời gian và chi phí (bao gồm cả khả năng giảm giá của tài sản). Các tiêu chí đo lường tính thanh khoản của tài sản bao gồm: có sẵn số lượng để mua hoặc bán (the right amount is available), có sẵn thị trường giao dịch (at the right location), có sẵn thời gian giao dịch (at the right time) và chi phí giao dịch hợp lý (at the right price).
Một tài sản được coi là có tính thanh khoản cao nếu việc chuyển đổi tài sản đó thành tiền mất ít thời gian và chi phí thấp. Ngược lại, một tài sản mất nhiều thời gian hoặc chi phí cao để chuyển đổi thành tiền thì có tính thanh khoản thấp. Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), thanh khoản của ngân hàng là khả năng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh, bao gồm chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Tính thanh khoản của một ngân hàng được tạo lập bởi tính thanh khoản của tài sản mà ngân hàng đó nắm giữ và tính thanh khoản của nguồn (từ tài sản hiện có và nguồn vốn có thể huy động mới).
Tính thanh khoản của ngân hàng được xem như khả năng tức thời nhằm đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Một ngân hàng được coi là thanh khoản tốt nếu có khả năng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu thanh toán chi trả phát sinh với chi phí hợp lý đúng vào thời điểm khách hàng hoặc đối tác có nhu cầu. Theo Joel Bessis (1999), tỷ lệ thanh khoản của ngân hàng được tính bằng cách so sánh tổng số tiền mặt, các khoản tương đương tiền và tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác với tổng tài sản của ngân hàng. Các khoản tương đương tiền là những tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, nghĩa là chúng có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mặt mà không bị mất giá trị đáng kể.
Cụ thể, trong ngân hàng, các khoản tương đương tiền bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn tại các ngân hàng khác (có thể rút ngay lập tức mà không cần báo trước), tiền gửi có kỳ hạn ngắn dưới 3 tháng (với lãi suất thấp nhưng an toàn và dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt) và chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn. 8 Nguồn cung về thanh khoản Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), cung thanh khoản là số tiền có sẵn hoặc có thể có trong thời gian ngắn để ngân hàng sử dụng. Cung thanh khoản bao gồm các tài sản hiện có và khả năng huy động mới của ngân hàng. Trong đó, nguồn cung quan trọng nhất là nguồn tiền gửi bổ sung của khách hàng, tiếp đến là các khoản tín dụng được hoàn trả và doanh thu từ dịch vụ.
- Cung thanh khoản phát sinh từ tài sản có bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền; các khoản tín dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD), tổ chức kinh tế (TCKT) và cá nhân đến hạn hoàn trả; chứng khoán do chính phủ phát hành; các tài sản có tính thanh khoản khác như các khoản tiền mà ngân hàng cho vay trên thị trường tiền tệ, các khoản phải thu đến hạn, các khoản tạm ứng, v. - Cung thanh khoản phát sinh từ tài sản nợ gồm: tiền gửi huy động từ TCKT và cá nhân; phát hành giấy tờ có giá; vay trên thị trường liên ngân hàng; vay cầm cố, chiết khấu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN); nhận tiền gửi từ Kho bạc Nhà nước; nhận tiền gửi và vay từ các TCTD khác. - Cung thanh khoản phát sinh từ khoản mục ngoại bảng bao gồm các sản phẩm phái sinh như hợp đồng mua bán kỳ hạn trong giao dịch kinh doanh ngoại tệ, quyền chọn trong giao dịch ngoại tệ, các hối phiếu của bộ chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu được ngân hàng nước ngoài chấp nhận, v. Nguồn cầu thanh khoản Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), cầu thanh khoản là số tiền ngân hàng cần chi trả ngay lập tức hoặc trong một thời gian ngắn.
Cầu thanh khoản cũng phát sinh từ tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng, trong đó chủ yếu là từ việc khách hàng rút tiền gửi và cấp tín dụng cho khách hàng. - Cầu thanh khoản phát sinh từ tài sản nợ gồm: nhu cầu rút tiền gửi của Kho bạc Nhà nước; nhu cầu rút tiền gửi của các TCTD; nhu cầu rút tiền gửi không kỳ hạn của dân cư và TCKT; nhu cầu rút tiền gửi có kỳ hạn đến hạn, rút tiền gửi trước hạn của TCKT và dân cư; khoản vay từ NHNN và các TCTD khác đến hạn; vốn cho vay đồng tài trợ đến hạn; vốn huy động dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá đến kỳ hạn; các tài sản nợ khác như khoản phải trả, thanh toán các chi phí hoạt động như 9 tiền lương, chế độ trợ cấp, mua sắm tài sản, chi phí sử dụng dịch vụ của các tổ chức khác, trả thuế, trả cổ tức cho cổ phiếu phát hành và chi trả các nghĩa vụ tài chính khác. - Cầu thanh khoản phát sinh từ tài sản có gồm: dự trữ bắt buộc, các cam kết cho vay, các khoản cho vay được cam kết trong tương lai, v. - Cầu thanh khoản phát sinh từ khoản mục ngoại bảng gồm các cam kết mua kỳ hạn trong giao dịch kinh doanh ngoại tệ.
Các yếu tố tác động tới khả năng thanh khoản của Ngân hàng TMCP 2. Các yếu tố bên trong ngân hàng 2. Quy mô ngân hàng (SIZE) Theo Nguyễn Đăng Dờn (2004) thì quy mô ngân hàng thể hiện thông qua cơ cấu tài sản hay nguồn vốn của NHTM trên bảng cân đối kế toán, nó thể hiện sự lớn mạnh trong hoạt động của ngân hàng và thị phần lớn nhỏ của ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng thương mại trong quốc gia, quy mô ngân hàng nó thể hiện rất nhiều thông qua những tiêu chí như tài sản, cơ cấu nguồn vốn huy động – cho vay, thị trường hoạt động của ngân hàng,. Quy mô tài sản bao gồm nhiều yếu tố khác nhau.
Tiền mặt và khoản tương đương tiền mặt đo lường khả năng thanh toán nhanh chóng, trong khi cho vay và nguồn cấp tín dụng thể hiện sức mạnh của ngân hàng trong việc hỗ trợ tài chính cho cộng đồng và doanh nghiệp. Đầu tư và chứng khoán phản ánh khả năng sinh lời và đa dạng hóa danh mục, trong khi bất động sản và tài sản khác đo lường sự đa dạng của ngân hàng trong các loại tài sản. Quy mô tài sản không chỉ đơn thuần là một chỉ số về khối lượng, mà còn phản ánh độ hiệu quả và khả năng đối mặt với rủi ro. Một ngân hàng lớn có quy mô tài sản cao có thể linh hoạt đối mặt với biến động của thị trường và có sức ảnh hưởng lớn hơn trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế và cộng đồng.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng (CREDIT) Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), Tốc độ tăng trưởng tín dụng là chỉ số đo lường mức tăng hoặc giảm của tổng lượng tín dụng mà các tổ chức tài chính cung cấp cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Chỉ số này phản ánh sự thay đổi về khối lượng cho vay và tín dụng trong nền kinh tế, đồng thời là một chỉ số quan trọng để đánh giá sức 10 khỏe và động lực của nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng tín dụng có tác động trực tiếp đến thanh khoản của các tổ chức tài chính. Khi tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, các ngân hàng cần sử dụng nhiều nguồn vốn hơn để đáp ứng nhu cầu vay, dẫn đến giảm lượng tiền mặt và các khoản tương đương tiền sẵn có.
Điều này có thể làm suy giảm thanh khoản và tăng rủi ro thanh khoản, khi ngân hàng gặp khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu rút tiền hoặc thanh toán nợ ngắn hạn. Ngược lại, khi tốc độ tăng trưởng tín dụng chậm lại hoặc giảm, các ngân hàng thường có nhiều tiền mặt và các khoản tương đương tiền hơn, giúp cải thiện thanh khoản. Tuy nhiên, điều này cũng có thể báo hiệu sự suy giảm trong nhu cầu vay vốn và phản ánh những thách thức trong nền kinh tế. Do đó, việc cân bằng giữa tăng trưởng tín dụng và quản lý thanh khoản là điều cần thiết để đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng được xác định bằng cách so sánh số tiền cho vay trong kỳ hiện tại với số tiền cho vay trong kỳ trước. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng tín dụng cho biết mức độ tăng hoặc giảm của các khoản cho vay theo thời gian. Để tính toán, ta lấy tổng số tiền cho vay trong kỳ hiện tại trừ đi tổng số tiền cho vay trong kỳ trước, sau đó chia cho tổng số tiền cho vay trong kỳ trước. Kết quả cho thấy tỷ lệ phần trăm tăng trưởng tín dụng, phản ánh mức độ mở rộng hay thu hẹp của hoạt động cho vay giữa hai kỳ.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng thường được sử dụng để đánh giá sự mở rộng hoặc thu hẹp của hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nếu tốc độ tăng trưởng là dương, có nghĩa là lượng tín dụng tăng, trong khi tốc độ tăng trưởng âm chỉ ra giảm tỷ lệ tín dụng.