Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về vay tiêu dùng và hành vi vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân tại các Ngân hàng thương mại. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch 1. Chương 4: Kiến nghị một số giải pháp thúc đẩy hoạt động cho vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch 1.
4 CHƢƠNG 1: TỒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAY TIÊU DÙNG VÀ HÀNH VI VAY TIÊU DÙNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. ổ qu cô trì cứu o ớc Nhận thức được vai trò quan trọng của cho vay tiêu dùng trong nền kinh tế, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến hành vi vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân. Trong đó lý thuyết được sử dụng phổ biến nhất là Thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behaviour) được tác giả Ajzen xây dựng năm 1991, được phát triển bằng cách bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi từ thuyết hành động hợp lý (TRA) (Ajzen&Fishbein, 1975), giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó.
Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Theo TPB, ý định hành vi là yếu tố quyết định hành vi của cá nhân. Ý định hành vi của cá nhân lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của 3 yếu tố bao gồm: thái độ của cá nhân đối với hành vi (attitude toward behavior), chuẩn mực chủ quan (subjective norms) và nhận thức khả năng kiểm soát hành vi (perceived behavior control). Mô hình hành vi người tiêu dùng theo TPB đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu thực chứng để đo lường ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định hành vi và hành vi thực tế của người tiêu dùng.
Hoạt động vay tiêu dùng trên thế giới đã xuất hiện từ lâu và trở nên rất phổ biến, đặc biệt là tại các nước phát triển. Vì vậy có khá nhiều các nghiên cứu về nhu cầu, hành vi của khách hàng cá nhân liên quan đến vay tiêu dùng, điển hình là một số nghiên cứu như sau: 5 - Antonio Paradiso, Saten Kumar (2014): Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi vay tiêu dùng của khách hàng tại Mỹ. - Shen Bingxi, Yan Lijuan (2007): Phát triển vay tiêu dùng tại Trung Quốc. - Kasim Tatlilioglu (2014): Nghiên cứu các yếu tố quyết định ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng và xu hướng.
- Fabio Wendling Muniz de Andrade, Lyn Thomas (2007): Mô hình cấu trúc trong vay tiêu dùng. Nhìn chung, các bài báo, bài nghiên cứu nêu trên đều sử dụng các mô hình để phân tích, chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi vay tiêu dùng, xu hướng của hành vi, đồng thời đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy hoạt động cho vay tiêu dùng cho các TCTD. Tuy nhiên các nghiên cứu trên gần như có chung hạn chế về việc chọn mẫu nghiên cứu, mẫu chỉ tập trung ở một khu vực địa lý nhất định, chưa mang tính đại diện cho tổng thể. Bên cạnh đó, các nghiên cứu nêu trên được thực hiện ở các quốc gia khác nhau với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa khác biệt do đó không thể áp dụng vào thị trường vay tiêu dùng tại Việt Nam.
ổ qu cô trì cứu tro ớc Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về lý thuyết hành vi người tiêu dùng đã tương đối phổ biến. Một số công trình tiêu biểu như sau: - Phạm Chí Hiếu (2015): Hành vi người tiêu dùng đối với điện thoại di động thương hiệu Việt. Trong khuôn khổ nghiên cứu, tác giả đã xác định được năm yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua điện thoại di động thương hiệu Việt bao gồm: (1) đặc điểm của sản phẩm (2) thương hiệu (3) ảnh hưởng xã hội (4) giá cả. Ngoài ra mô hình cũng xem xét sự ảnh hưởng đến ý định mua của bốn biến nhân khẩu học là giới tính, độ tuổi, thu nhập trung bình, trình độ học vấn.
Tuy nhiên, 6 nghiên cứu cũng có một số hạn chế nhất định như: Mô hình nghiên cứu chưa khái quát hết được các yếu tố tác động đến ý định mua điện thoại thương hiệu Việt; Nghiên cứu vẫn chưa kiểm soát sự tác động của biến nhân khẩu học có thể có ý nghĩa đến ý định mua sản phẩm điện thoại thương hiệu Việt của người tiêu dùng. - Nguyễn Phương Quỳnh (2015): Tìm hiểu hành vi lựa chọn sản phẩm dịch vụ ngân hàng của nhóm khách hàng tiểu thương/hộ kinh doanh cá thể tại Ngân hàng TMCP Quân đội (MB). Nội dung đề tài đã chỉ r được đặc điểm hành vi tiêu dùng của nhóm khách hàng tiểu thương/hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn, đồng thời đưa ra một số gợi ý về sản phẩm dịch vụ MB cần cung cấp để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Tuy nhiên, đề tài cũng có một số hạn chế về nguồn dữ liệu của đối thủ cạnh tranh để so sánh với MB, quy mô phỏng vấn cũng như nguồn lực thu thập dữ liệu còn ít, chưa mang tính đại diện cho tổng thể.
- Phạm Thùy Giang (2015): Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng đối với dịch vụ internet banking của các ngân hàng thương mại Việt Nam - Những khuyến nghị. Tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng dịch vụ internet banking của người tiêu dùng, từ đó đưa ra các giải pháp để các ngân hàng thương mại cải thiện dịch vụ, phát triển mạng lưới khách hàng. Tuy nhiên cũng giống như một số bài nghiên cứu khác, công trình của tác giả vẫn còn hạn chế trong công tác chọn mẫu (mới chỉ tập trung vào các khách hàng ở thành phố), chưa mang tính khái quát tổng thể. Bên cạnh đó, dữ liệu của các ngân hàng dùng để so sánh chưa thật sự đầy đủ.
- Đào Thị Thu Hằng (2015): Ảnh hưởng của Marketing trực tuyến tới hành vi khách hàng. - Hoàng Lan Hương (2016): Hành vi mua sắm trang phục lứa tuổi vị thành niên: Nghiên cứu cho dự án khởi sự doanh nghiệp Thế giới tr. 7 - Hà Ngọc Thắng, Nguyễn Thành Độ (2016): Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Việt Nam: Nghiên cứu mở rộng thuyết hành vi có hoạch định. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu sử dụng dữ liệu và dùng mô hình để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi khách hàng, từ đó đưa ra dự báo về hành vi.
Tuy nhiên, do nguồn lực có hạn nên phạm vi nghiên cứu của các công trình chỉ giới hạn ở một tệp khách hàng nhất định, nguồn dữ liệu từ các đối thủ cạnh tranh vẫn còn hạn chế. Mặc dù tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về lý thuyết hành vi người tiêu dùng đã tương đối phổ biến, tuy nhiên có khá ít các nghiên cứu về hành vi vay tiêu dùng của khách hàng tại các TCTD. Tiêu biểu chỉ có một vài công trình được nghiên cứu như sau: - Nguyễn Thùy Dung, Cung Thị Lan Anh (2019): Sự khác nhau về văn hóa địa lý và hành vi vay tiêu dùng của người dân tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra sự khác nhau về hành vi vay tiêu dùng của người tiêu dùng ở Hà Nội và TP HCM theo những đặc thù về văn hóa địa lý, từ đó đưa ra một số khuyến nghị giúp các tổ chức tín dụng đưa ra những quyết định quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.
Tuy nhiên, trong nội dung đề tài, tác giả mới chỉ xem xét một số đặc thù về văn hóa địa lý tại hai thành phố là Hà Nội và Hồ Chí Minh, chưa đi sâu phân tích các khía cạnh cụ thể, đặc biệt là mở rộng ra các địa phương khác. - Nguyễn Phương Mai, Lưu Thị Minh Ngọc, Trần Hoàng Dũng (2019): Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định vay tiêu dùng của sinh viên trên địa bàn Hà Nội. Trong đề tài, tác giả đã kiểm chứng được các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến ý định vay tiêu dùng của sinh viên, đồng 8 thời đưa ra một số gợi ý giúp các ngân hàng, doanh nghiệp thay đổi chiến lược để thúc đẩy sự phát triển của thị trường vay tiêu dùng sinh viên. Tuy nhiên nghiên cứu cũng còn một số hạn chế như: Hạn chế về mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu (mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn để mang tính đại diện cho tổng thể, phương pháp lấy mẫu là phương pháp ươm mầm cỡ mẫu nên có thể làm suy giảm tính ngẫu nhiên của mẫu); hạn chế về phạm vi nghiên cứu (chỉ chọn mẫu nghiên cứu tại một số trường Đại học ở Hà Nội mà chưa mở rộng sang khu vực khác),… 1.
Cơ sở lý luận về vay tiêu dùng 1. K á c ov yt ud Cho vay tiêu dùng là hoạt động phổ biến trên thế giới. Trên thực tế, có rất nhiều khái niệm về cho vay tiêu dùng: Theo Nguyễn Phương Mai (2019): Tín dụng tiêu dùng (consumer credit) được định nghĩa là khoản vay được cung cấp bởi các tổ chức tài chính, trong đó chủ yếu bao gồm NHTM, CTTC cho một cá nhân (chứ không phải đơn vị kinh doanh) cho mục đích tiêu dùng. Thuật ngữ tín dụng tiêu dùng còn được gọi là cho vay tiêu dùng vì nó gắn liền với hoạt động cho vay của các TCTD và hoạt động vay của cá nhân .