Chương 1: Giới thiệu Chương này trình bày tổng quan nghiên cứu, bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng. Bên cạnh đó, tính đóng góp của đề tài cũng được trình bày trọng chương này. Thông qua đó xác định cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan để tìm hiểu tại Chương 2. 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến hoạt động cho vay bán lẻ, hiệu quả hoạt động cho vay bán lẻ, bộ chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động cho vay bán lẻ, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay bán lẻ.
Đồng thời lược khảo các nghiên cứu trước về hoạt động cho vay bán lẻ, hiệu quả cho vay của các tác giả ngoài nước và trong nước đã thực hiện qua các giai đoạn khác nhau, làm tiền đề cho phương pháp nghiên cứu đề xuất ở Chương 3. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Qua việc lựa chọn phương pháp tác giả tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu, dựa trên tính kế thừa các nghiên cứu trước và điều kiện thực tiễn tại nơi chọn mẫu nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả đề xuất phương pháp nghiên cứu, lựa chọn các biến và nêu lên giả thuyết đối với từng biến nghiên cứu, làm cơ sở để tính toán, thu thập kết quả và phân tích ở Chương 4. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Dựa trên kết quả thu được, trình bày chi tiết thống kê mô tả, phân tích tương quan giữa các biến và phân tích kết quả nghiên cứu.
Ngoài ra, các kiểm định liên quan cũng được trình bày để xem xét, lựa chọn biến, mô hình phù hợp tác động đến hiệu quả cho vay bán lẻ, làm nền tảng để tác giả đưa ra các thảo luận và đề xuất giải pháp phù hợp ở Chương 5. Chương 5: Thảo luận và đề xuất giải pháp Tại chương cuối cùng của luận văn, tác giả trình bày kết luận về vấn đề nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp dựa trên kết quả nghiên cứu. Nêu lên các mặt hạn chế và những điểm gợi mở của đề tài, từ đó đề xuất các hướng nghiên cứu mới có thể phát triển dựa trên nghiên cứu này. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết hoạt động cho vay bán lẻ 2.1 Hoạt động cho vay bán lẻ 2.1 Khái niệm hoạt động cho vay bán lẻ Theo Clark (2007), hoạt động cho vay bán lẻ là một bộ phận cấu thành nên lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, cho vay bán lẻ hình thức cung cấp vốn vay của ngân hàng cho các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình.
Đây là hoạt động cơ bản của tất cả các NHTM. Vì đối tượng của hoạt động cho vay bán lẻ rất đa dạng và phổ biến, nên các ngân hàng đều tập trung vào phân khúc khách hàng này. Hoạt động cho vay bán lẻ giúp mang lại thu nhập cho ngân hàng thông qua lãi suất cho vay, nhờ đó mà hoạt động của ngân hàng được tăng cường (Das, 2012). Ngoài ra, dựa vào cho vay bán lẻ, ngân hàng có thể phát triển các hoạt động khác như: mở rộng thị phần hoạt động, được nhiều khách hàng biết đến.
Tất cả các yếu tố đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Cho vay bán lẻ được thực hiện với khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, thường có quy mô nhỏ (vốn vay, giá trị sử dụng dịch vụ,…) và thông qua các chi nhánh nhằm đối lập với cho vay bán buôn là mảng cho vay dành cho các doanh nghiệp lớn và định chế tài chính, các khách hàng sử dụng nghiệp vụ cho vay bán buôn thưởng là các tổ chức kinh tế, tổng công ty, xí nghiệp có quy mô lớn.2 Đặc điểm hoạt động cho vay bán lẻ Thứ nhất, hoạt động cho vay bán lẻ tập trung cung ứng tiện ích và sản phẩm cho vay đến tận tay người tiêu dùng (tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt). Đối tượng khách hàng của cho vay bán lẻ bao gồm các cá nhân, hộ gia đình và đa dạng về hình thức phục vụ (Loveman, 1998). Trong khi đó, hoạt động cho vay bán buôn tiếp cận số lượng khách hàng nhỏ hơn, do đối tượng phục vụ chủ yếu của cho vay bán buôn là các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có quy mô lớn.
Thứ hai, cho vay bán lẻ hướng đến khách hàng cá nhân, hộ gia đình nên các dịch vụ thường tập trung vào các nghiệp vụ mở thẻ tín dụng, cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất kinh doanh, quy trình thực hiện thường đơn giản, không tốn kém nhiều thời gian và chi phí (Dinh và Kleimeier, 2007). Các dịch vụ và quy trình áp dụng đối 7 với hoạt động cho vay bán buôn thực hiện phức tạp, mất nhiều thời gian. Ví dụ: để cho vay một doanh nghiệp lớn, ngân hàng phải tiến hành thẩm định dự án lâu hơn so với cho vay đối với khách hàng cá nhân. Thứ ba, cho vay bán lẻ có độ rủi ro thấp, phân tán rủi ro – trái ngược với cho vay bán buôn, rủi ro mang tính tập trung (Ghosh, 2012).
Đây là đặc điểm khác biệt so với cho vay bán buôn. Trong khi hoạt động cho vay bán buôn tại các ngân hàng tập trung vào đối tượng khách hàng là tổ chức kinh tế, trung gian tài chính với giá trị giao dịch lớn, mức độ rủi ro cao thì hoạt động cho vay bán lẻ với số lượng lớn khách hàng là cá nhân, rủi ro phân tán và rất thấp là một trong những mảng đem lại doanh thu ổn định và an toàn cho các NHTM. Cuối cùng, cho vay bán lẻ có khả năng sinh lời tốt. Với cho vay bán lẻ, quy mô càng lớn, số người tham gia càng nhiều thì chi phí càng thấp, càng thuận tiện và tiết kiệm chi phí.
Bên cạnh đó còn giúp tăng khả năng thu nhập từ phí, do các ngân hàng có nguồn thu lớn từ việc bán chéo sản phẩm bancassurance (Muunda, 2013), trái phiếu, chứng chỉ quỹ,… Cho vay bán buôn thường không đòi hỏi phải trang bị nhiều về mạng lưới phân phối và nguồn nhân lực vì số lượng khách hàng ít hơn nhiều so với cho vay bán lẻ.2 Hiệu quả của hoạt động cho vay bán lẻ Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận. Hiệu quả hoạt động cho vay được hiểu là khả năng chuyển đổi các yếu tố đầu vào (chi phí tiền gửi, chi phí dự phòng, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí thuế,…) thành các yếu tố đầu ra (doanh thu từ lãi vay, phí tư vấn tài chính,…), hay nói một cách khác là khả năng sinh lời thông qua việc tiết kiệm các chi phí đầu vào để làm gia tăng lợi nhuận hoặc tối ưu hóa doanh thu mang lại từ đầu ra. Đối với hoạt động cho vay bán lẻ thì khả năng sinh lời là mục tiêu được quan tâm hàng đầu, vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư. Ngoài ra, hoạt động cho vay bán lẻ có hiệu quả còn giúp ngân hàng có thể phát triển các hoạt động khác: mở rộng thị phần hoạt động, bán chéo sản phẩm, được 8 nhiều khách hàng biết đến,.
Tất cả các yếu tố đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.2 Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động cho vay bán lẻ 2.1 Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng Về bản chất, ngân hàng được xem như là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp (Rose 1999). Do đó, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm. Chính vì vậy, hiệu quả hoạt động của ngân hàng thường được xác định thông qua các chỉ tiêu liên quan đến khả năng sinh lời, các chỉ tiêu liên quan đến các khoản thu nhập và chi phí cũng như các chỉ tiêu liên quan đến mức độ rủi ro trong quá trình hoạt động của ngân hàng.1 Đo lường hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu liên quan đến khả năng sinh lời Theo Đoàn Việt Hùng (2016), phân tích khả năng sinh lời là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và hiệu quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần khai thác. Từ đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Hầu hết các nghiên cứu về lợi nhuận được đo lường thông qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) như các nghiên cứu từ trước đến nay của Abreu và Mendes (2002), Athanasoglou, Delis và Staikouras (2006), Wahdan và Leithy (2017). Ngoài ra, nghiên cứu của Gul, Irshad và Zaman (2011), San và Heng (2012), Francis (2013) đã bổ sung chỉ tiêu tỷ lệ lãi cận biên (NIM) để đo lường lợi nhuận của các NHTM. Lợi nhuận sau thuế o Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return On Asset – ROA) ROA = Tổng tài sản bình quân Tỷ số lợi nhuận trên tài sản là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. Chỉ tiêu ROA được tính toán bằng cách lấy chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế chia cho chỉ tiêu tổng tài sản bình quân của ngân hàng.
Chỉ tiêu này là một trong những chỉ tiêu cơ bản và quan trọng giúp đánh giá hiệu quả 9 hoạt động của ngân hàng. Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của ngân hàng. o Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE) Lợi nhuận sau thuế ROE = Tổng vốn chủ sở hữu bình quân ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập mà các cổ đông của ngân hàng nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. Nói cách khác, ROE đánh giá lợi ích mà cổ đông có được từ nguồn vốn bỏ ra.
ROE cho biết mức thu nhập ròng trên vốn cổ đông, thể hiện khả năng của NHTM trong việc tạo ra lợi nhuận và giá trị gia tăng cho cổ đông. Chỉ tiêu ROE được tính toán bằng cách lấy chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế chia cho chỉ tiêu tổng vốn chủ sở hữu bình quân của ngân hàng. Bên cạnh ROA, chỉ tiêu ROE cũng là một trong những chỉ tiêu cơ bản và quan trọng giúp đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vốn chủ sở hữu và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.