Chương 1: Giới thiệu lý do, mục tiêu, phạm vi và bố cục của đề tài. Chương 2: Tổng quan về lý thuyết và nghiên cứu trước đây về lý thuyết đánh đổi tĩnh và lý thuyết trật tự phân hạng của cấu trúc vốn. Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hạn chế của luận văn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ LÝ THUYẾT ĐÁNH ĐỔI TĨNH VÀ LÝ THUYẾT TRẬT TỰ PHÂN HẠNG CỦA CẤU TRÚC VỐN 2.1 Khung lý thuyết đánh đổi tĩnh và trật tự phân hạng cấu trúc vốn 2.1 Lý thuyết đánh đổi tĩnh và trật tự phân hạng cấu trúc vốn của Myers Modigliani và Miller (1958) đã cho rằng trong thế giới hoàn hảo có đầy đủ thông tin cho nhà đầu tư, không có thuế và chi phí giao dịch, thì giá trị doanh nghiệp và đặc biệt là giá cổ phần được quyết định mà không cần xem xét đến giá trị cấu trúc vốn. Vì vậy, đòn bẩy sẽ độc lập với giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên việc xem xét các chi phí phá sản và chi phí đại diện sẽ sửa đổi các giả thuyết của Modigliani và Miller. Khi thuế thu nhập doanh nghiệp được thêm vào thì điều này đã tạo một lợi ích cho các khoản nợ ở chỗ, nó được sử dụng để bảo vệ khoản thu nhập từ thuế.
Vì vậy nếu không có chi phí bù đắp các khoản nợ thì công ty được tài trợ 100% vốn bằng vay nợ. Các công ty này hiển nhiên sẽ bị phá sản. Để tránh dự báo xấu này thì chi phí bù đắp các khoản nợ sẽ phải được tính trong vay nợ. Sau đó, Myers (1984) đã đưa ra hai lý thuyết cạnh tranh nhau liên quan đến cấu trúc vốn: thuyết đánh đổi cấu trúc vốn và thuyết trật tự phân hạng cho việc mô tả cấu trúc vốn của công ty.1 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Vấn đề về nợ và thuế Myers lập luận rằng lãi vay là một chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, công ty sẽ thu được một phần bù đắp từ chi phí lãi vay gọi là lá chắn thuế, vì vậy thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ thấp hơn.
Do đó, tài trợ thông qua nợ thay vì vốn chủ sở hữu sẽ làm gia tăng tổng thu nhập sau thuế cho chủ sở hữu và nhà đầu tư và gia tăng giá trị công ty. Ngoài ra, ông đưa ra những vấn đề về nợ và thuế như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Thứ nhất, công ty không luôn có lợi nhuận, vì vậy thuế suất thực tế trong tương lai có thể thấp hơn so với hiện tại (do các khoản lỗ sẽ được chuyển sang các năm sau đó). Thứ hai, nợ không phải vĩnh viễn và được cố định. Nhà đầu tư hiện tại không thể biết được quy mô và thời gian của lá chắn thuế trong tương lai.
Mà khả năng vay nợ phụ thuộc vào giá trị của công ty trong tương lai, khả năng vay nợ có thể gia tăng nếu công ty tốt, và bị giảm nếu tình hình công ty xấu đi. Nếu tình hình công ty xấu đi thì lá chắn thuế trong tương lai phụ thuộc vào các khoản vay nợ của nhà đầu tư mạo hiểm. Thứ ba, lợi ích từ thuế thu nhập doanh nghiệp từ nợ có thể đã bù đắp một phần lợi ích thuế của vốn chủ của nhà đầu tư cá nhân, cụ thể là khả năng trì hoãn lợi nhuận từ vốn và chỉ thanh toán thuế khi thực sự nhận được cổ tức bằng tiền. Trên thực tế, tỷ lệ thuế từ lãi vay và cổ tức thì cao hơn so với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, nên đã dẫn đến sự pha trộn giữa cổ tức và lợi nhuận giữ lại.
Điều này làm công ty nhận ra có sự giảm chi phí sử dụng vốn do có nợ. Nếu các thuế suất thực tế được áp dụng chung cho các khoản thu nhập từ nợ và vốn cổ phần sẽ xảy ra trạng thái cân bằng theo mô tả của Miller (1977). Trạng thái cân bằng được diễn đạt như sau. Khoản nợ ngày càng cao thì nhà đầu tư sẽ đòi hỏi lãi suất cao hơn và nhiều lợi ích hơn so với nguồn lợi nhuận tái đầu tư của công ty.
Lãi suất càng gia tăng khi nợ càng gia tăng, dẫn đến công ty đối mặt với sự gia tăng chi phí lãi vay làm tăng chi phí sử dụng vốn của mình. Cuối cùng, chi phí sau thuế của nợ trở nên cao và điều này là không có lợi khi công ty tiếp tục vay thêm. Theo đó, nợ tăng lên cho đến khi không thu được lợi ích ròng về thuế nữa. Như vậy nếu không có chi phí bù đắp cho khoản tăng thêm, thì công ty sẽ cố gắng sử dụng tấm chắn thuế càng nhiều càng tốt và trong trạng thái cân bằng thì sẽ tiết kiệm được thuế nhiều nhất.
Dự đoán này rõ ràng là sai. Phải có một số chi phí gắn liền với các khoản vay mạo hiểm. Điều này dẫn đến thuyết đánh đổi cấu trúc vốn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Lý thuyết đánh đổi biện minh cho tỷ số nợ vừa phải, công ty sẽ vay đến điểm mà tại đó giá trị biên tế của lá chắn thuế được bù đắp bởi sự gia tăng trong giá trị hiện tại của các chi phí có thể xảy ra từ tình hình kiệt quệ tài chính.
Tình trạng kiệt quệ tài chính đề cập đến chi phí phá sản, tái cấu trúc, và chi phí đại diện khi mức độ tín nhiệm của công ty có vấn đề. Giả định rằng chỉ có chi phí của kiệt quệ tài chính thì viễn cảnh của tình trạng này đã có thể làm giảm giá trị thị trường hiện tại của công ty. Lý thuyết đánh đổi gặp khó khăn trong vấn đề thuế, vì nó có vẻ không chấp nhận việc duy trì tỷ lệ thận trọng bởi thuế phải trả. Nếu lập luận này là đúng, thì một công ty đang tối đa hóa giá trị không nên bỏ qua lá chắn thuế khi khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính là thấp.
Ngoài ra, nhà quản lý có thể khai thác giá trị của tấm chắn thuế theo hướng: lợi nhuận cao, công ty sẽ có lợi nhuận nhiều hơn để bảo vệ các khoản nợ mà không sợ kiệt quệ tài chính.Tuy nhiên đã có thực tiễn nhiều công ty có lợi nhuận cùng với xếp hạng tín dụng cao nhưng có tỷ lệ nợ thấp như Microsoft và các công ty dược phẩm lớn. Điều này đồng nghĩa với lợi nhuận cao thì tỷ lệ nợ thấp và ngược lại, và lý thuyết đánh đổi không thể giải thích được điều này. Lý thuyết đánh đổi của cấu trúc vốn tối ưu có mức độ giải thích mạnh cho các trường hợp thông thường, khi tỷ lệ nợ là vừa phải. Lý thuyết này cũng phù hợp với thực tế như các công ty có tài sản hữu hình tương đối an toàn thì có xu hướng vay nhiều hơn các công ty có tài sản vô hình (rủi ro kinh doanh cao làm gia tăng tỷ lệ của kiệt quệ tài chính và tài sản vô hình có nhiều khả năng bị tổn thất khi công ty lâm vào kiệt quệ tài chính).2 Lý thuyết trật tự phân hạng Myers phân tích một công ty có tài sản và cơ hội tăng trưởng thì luôn có yêu cầu bổ sung nguồn tài chính.
Và ông giả định rằng trong thị trường tài chính hoàn hảo (ngoại trừ nhà đầu tư không biết được giá trị thực của tài sản và cơ hội tăng trưởng mới) thì LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nhà đầu tư có thể biết giá trị chính xác của các khoản chứng khoán phát hành để tài trợ khoản đầu tư mới. Giả sử công ty thông báo phát hành cổ phiếu thường thì đó là tin tốt cho các nhà đầu tư; nếu nó cho thấy một cơ hội tăng trưởng với giá trị hiện tại ròng dương; và nó là tin xấu nếu các nhà quản trị tin rằng tài sản được đánh giá quá cao bởi các nhà đầu tư và quyết định phát hành cổ phiếu với giá cao (phát hành cổ phiếu ở mức quá thấp thì giá trị của cổ đông hiện hữu sẽ được chuyển sang cho cổ đông mới, nếu giá cổ phiếu là cao thì việc dịch chuyển sẽ theo hướng ngược lại). Các nhà quản trị luôn quyết định theo hướng có lợi cho cổ đông hiện hữu và từ chối phát hành cổ phiếu khi bị đánh giá thấp, trừ khi việc chuyển từ cổ đông cũ sang cổ đông mới được bù đắp bởi các giá trị hiện tại ròng của các cơ hội tăng trưởng cao hơn. Điều này dẫn đến một trạng thái cân bằng tổng hợp, trong đó công ty có thể phát hành cổ phiếu tại mức giá giảm giá nhất định.
Giá cổ phiếu giảm không phải nhu cầu của nhà đầu tư với chứng khoán vốn là không co giãn, mà là những thông tin của nhà đầu tư suy luận từ quyết định phát hành, họ cho rằng thông tin xấu (về giá trị của tài sản) thì nhiều hơn thông tin tốt. Nguyên nhân đó là từ thông tin bất cân xứng, nhà quản trị biết về doanh nghiệp mình nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài và họ rất miễn cưỡng phát hành cổ phần khi cho rằng mức giá quá thấp, họ cố gắng tìm thời điểm phát hành khi cổ phần có giá phải chăng hay được định giá cao. Chính vì vậy, một số công ty có tài sản tốt khi bị đánh giá thấp tại mức giá mới sẽ quyết định không phát hành ngay, thậm chí bỏ qua cơ hội đầu tư với giá trị hiện tại thuần dương. Nếu công ty có thể phát hành nợ và cổ phiếu cho khoản đầu tư mới, thì nợ sẽ được thanh toán trước trên khía cạnh tài sản và thu nhập (hoàn trả vốn gốc và lãi vay), sau đó mới là vốn chủ.
Do đó, các nhà đầu tư vào nợ thì ít bị đặt vào tình trạng sai sót trong việc xác định giá trị công ty, nên phát hành nợ có tác động làm giảm giá cổ phiếu thấp hơn so với phát hành cổ phiếu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tiếp đó, phát hành nợ làm giảm thiểu lợi thế thông tin của các nhà quản trị. Nhà quản trị lạc quan (những nhà quản trị cho rằng cổ phiếu của họ đang bị đánh giá thấp) sẽ chuyển qua phát hành nợ thay vì phát hành cổ phiếu. Chỉ những nhà quản trị bi quan muốn phát hành cổ phiếu, nhưng nhà đầu tư nào sẽ mua nó?