chương 1: Cạnh tranh là một vấn đề quan trọng rất được quan tâm không chỉ trong các nghiên cứu mà còn ở những chính sách kinh tế nói chung. Hiện nay cạnh tranh ở Việt Nam được nghiên cứu chủ yếu là các góc độ về cạnh tranh cho các ngân hàng đơn lẻ với nhau, chưa thật sự nhiều kết luận dành cho một chủ thể chung là thị trường ngân hàng. Với mục tiêu nghiên cứu và đưa ra những nhận định có tính tham khảo, các phân tích thực trạng cùng với kết quả định lượng thì bài luận văn này sẽ cung cấp các nhân định hợp lý và chính xác nhất cho cạnh tranh tại thị trường ngân hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.
Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh 2. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh (Competition) là một khái niệm rộng, được sử dụng phổ biến từ rất lâu, mang tính tổng quát và có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Khái niệm này được sử dụng trong phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành và cả trong phạm vi quốc gia hay khu vực, nó không giới hạn không gian và được sử dụng trong một nghĩa rộng ở mọi khía cạnh. Đồng thời các khái niệm cạnh tranh hiện tại là các quan điểm từ các tác giả, nhà nghiên cứu cô đọng lại sau quá trình phát triển của kinh tế và các nghiên cứu học thuật trước đó, cũng như khái niệm này cũng được nêu trong nhiều văn bản pháp luật, ấn phẩm khác nhau.
Michael Porter (1980): “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. Stigler (1988) có phát biểu khái niệm về cạnh tranh là “Cạnh tranh là sự cạnh tranh giữa các cá nhân (hoặc nhóm hoặc quốc gia), và nó phát sinh bất cứ khi nào hai hoặc nhiều bên nỗ lực cho một thứ mà tất cả đều không thể đạt được.” Bộ Thương mại (2001), Tài liệu tham khảo luật về cạnh tranh và chống độc quyền của một số nước và vùng lãnh thố trên thế giới, phục vụ xây dựng Luật cạnh tranh của Việt Nam cũng đã đề cập đến các khái niệm về cạnh tranh theo luật định các nước.
Theo đó tại Điều 3 Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ quy định: “Cạnh tranh có nghĩa là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường hàng hoá, dịch vụ để 8 quyết định các vấn đề kinh tế một cách độc lập”. Còn với Điều 4 Luật thương mại lành mạnh của Đài Loan quy định: “Cạnh tranh” là từ chỉ những hành động theo đó hai hay nhiều doanh nghiệp đưa ra thị trường mức giá, số lượng, chất lượng, dịch vụ ưu đãi hơn hoặc những điều kiện khác nhằm giành cơ hội kinh doanh”. Luật cạnh tranh năm 2018 (luật hiện hành) cũng như luật về cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới (Trung Quốc, Hàn Quốc, Bulgary, Nhật Bản.), tuy đều không đưa ra khái niệm cạnh tranh nhưng có chỉ ra các quy phạm nhằm tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng, đảm bảo sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh diễn ra theo trật tự và trong khuôn khổ được pháp luật quy định. Từ một số khái niệm đã nêu, có thể rút ra một khái niệm chung cho cạnh tranh là việc các tổ chức ganh đua tranh giành nhau các cơ hội để có lợi hơn trong hoạt động kinh doanh; mở rộng tệp khách hàng rộng lớn nhằm nâng cao vị thế của mình để đạt được mục tiêu lợi nhuận chung.
Đồng thời cạnh tranh là khái niệm mang tính khái quát và không cụ thể cho một vấn đề hay sự kiện bất kỳ nào nên nó sẽ cần được cập nhật các vấn đề có liên quan và mở rộng khái niệm hơn so với thời điểm ban đầu. Đối với cạnh tranh ngân hàng thì theo nghiên cứu của Kottmann (1974) cho rằng các ngân hàng cung cấp cho các khách hàng rất nhiều sản phẩm nhưng lại không phục vụ cho một thị trường duy nhất và việc xác định được thị trường liên quan, đưa ra quyết định sơ bộ về các đặc điểm cấu trúc có thể liên quan, chẳng hạn như mức độ tập trung và cạnh tranh. Thị trường liên quan sẽ bao gồm tất cả các bên cung cấp hàng hóa và là đối thủ cạnh tranh thực tế hoặc cạnh tranh tiềm năng, và thị trường này có kích thước về lưu lượng sản phẩm và kích thước không gian địa lý. Klaus Schaeck, Martin Cihák (2012) với nghiên cứu về mối quan hệ giữa cạnh tranh ngân hàng, mức độ tập trung và tỷ lệ vốn và là những nghiên cứu đầu tiên liên hệ thước đo trực tiếp của cạnh tranh ngân hàng với tỷ lệ vốn.
Kết quả cung cấp hỗ trợ thực nghiệm cho các 9 nghiên cứu lý thuyết đề xuất tác động tích cực của cạnh tranh đối với sự ổn định của ngân hàng, các phát hiện củng cố quan điểm rằng cạnh tranh và hoạt động lành mạnh có xu hướng đi đôi với nhau, đồng thời sự cạnh tranh có khả năng buộc các ngân hàng phải hoạt động gần với ranh giới hiệu quả. Cạnh tranh ngân hàng là một khái niệm đặc thù của một lĩnh vực đặc biệt, vẫn là những góc nhìn truyền thống về mục tiêu lợi nhuận, có được lợi thế kinh doanh nhưng bên cạnh đó còn là những vấn đề liên quan đến tính chất của sản phẩm và còn ảnh hưởng tới một thị trường (vì số lượng ngân hàng ít hơn hẳn nếu so với mọi ngành nghề khác). Khả năng cạnh tranh của ngân hàng sẽ phụ thuộc nhiều nhân tố (Lê Thị Thúy, 2020) bao gồm: năng lực tài chính, chất lượng cung ứng sản phẩm, dịch vụ, năng lực đổi mới công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng quản lý điều hành,…. kết quả này được ghi nhận từ nhiều nghiên cứu liên quan.
Ngoài ra, còn các nhân tố bên ngoài khác như điều kiện kinh tế, môi trường pháp lý, mức độ hợp tác chiến lược giữa các ngân hàng hay mức độ hội nhập cũng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng.2 Phân loại về thị trường cạnh tranh Dựa vào tính chất cạnh tranh có thể phân loại thị trường cạnh tranh của ngân hàng, bao gồm: Thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh độc quyền và thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition) Theo Paul Samuelson (2011) thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà giá cả sẽ do cung và cầu của toàn thể thị trường quyết định, ở đó người sản xuất và người tiêu dùng là người chấp nhận giá. Tại đây một doanh nghiệp không thể bằng mọi cách nào bán sản phẩm với giá cao hơn thị trường và chiều ngược lại người tiêu dùng cũng sẽ không thể mua với mức giá thấp hơn thị trường. Tại thị trường này sẽ 10 không tồn tại hiện tượng thao túng giá và giá cả sẽ phản ánh đúng quy luật cung cầu, thị trường cạnh tranh hoàn hảo được mô tả là thị trường kinh tế lý tưởng.
Đặc điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo: • Số lượng các doanh nghiệp là rất nhiều cho nên sản lượng của mỗi doanh nghiệp tạo ra là không đáng kể so với cả ngành. Lúc này, không có doanh nghiệp nào chiếm thị phần quá lớn và không có khả năng chi phối giá cả trên thị trường bằng các quyết định cung ứng của mình. • Sản phẩm, dịch vụ tương đối đồng nhất và giống nhau, khi này sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp có thể thay thế hoàn hảo cho nhau. Việc đồng nhất sản phẩm khiến cho người tiêu dùng có nhiều lựa chọn thay thế sản phẩm đang sử dụng bằng một doanh nghiệp khác tương tự cùng ngành.
• Việc thoải mái sử dụng sản phẩm thay thế nên cơ hội tìm kiếm người mua và người bán rất dễ dàng và nhanh chóng, làm chi phí giao dịch thấp. • Thông tin hoàn hảo cho cả người bán và người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp là như nhau. Trên thị trường này gần như không tồn tại hiện tượng bất đối xứng thông tin, thông tin luôn kịp thời và đầy đủ. • Tự do gia nhập và rút khỏi ngành dễ dàng, việc làm này không làm ảnh hưởng đến cấu kết của các doanh nghiệp hiện hành.
Thị trường độc quyền (Monopoly) Thị trường độc quyền (hay còn được gọi là thị trường độc quyền hoàn toàn) là thị trường đối lập với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, ở đó thị trường chỉ có duy nhất một nhà cung ứng sản phẩm, dịch vụ mà không có sản phẩm, dịch vụ thay thế. Mọi quyết định của nhà cung ứng về mặt số lượng đều có ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường (Paul Samuelson, 2011). 11 Đặc điểm của thị trường độc quyền: • Những đối thủ cạnh tranh không thể gia nhập ngành. Doanh nghiệp độc quyền hoàn toàn không có đối thủ cạnh tranh và do vậy có thể tùy ý định sản lượng hay giá của mà không e ngại sự cạnh tranh của doanh nghiệp khác cùng ngành.
Sự gia nhập ngành của các doanh nghiệp mới sẽ rất khó khăn. • Không có những sản phẩm, dịch vụ thay thế tương tự. Vì chỉ có một người bán duy nhất và đối thủ cạnh tranh rất khó gia nhập ngành nên dẫn đến tình trạng một người bán nhưng rất nhiều người muốn mua, việc tìm kiếm sản phẩm thay thế là không thể. Thị trường cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition) Thị trường cạnh tranh độc quyền là thị trường có vô số doanh nghiệp cung ứng, vô số người mua, người trao đổi mua bán các sản phẩm, dịch vụ giống nhau hoặc có sự khác biệt (không nhiều hoặc dị biệt) và tất nhiên là các sản phẩm, dịch vụ được cung ứng này có khả năng thay thế cho nhau.
Tại thị trường này, một số các doanh nghiệp hoặc người bán có chút khả năng làm ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm, dịch vụ của mình nhưng không đáng kể và không tiêu cực (Paul Samuelson, 2011). Đặc điểm của thị trường cạnh tranh độc quyền: • Có sự tự do nhập và xuất ngành. Các doanh nghiệp mới dễ dàng nhập ngành nếu thấy ngành đang sinh lợi cao hay các doanh nghiệp hiện hành có thể rút khỏi ngành nếu thấy không có lãi. Sự nhập và xuất ngành bảo đảm cho ngành luôn có một số lượng doanh nghiệp nhất định và do vậy có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong việc định giá và thay thế sản phẩm, dịch vụ lẫn nhau.