chương 1 tác giả đã tiến hành trình bày lý do chọn đề tài, từ đó, xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Để giải quyết được mục tiêu và trả lời được các câu hỏi nghiên cứu thì tác giả đã trình bày phương pháp và phạm vi nghiên cứu. Đồng thời, nêu ra đóng góp của đề tài này và kết cấu của luận văn. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
NỢ XẤU VÀ LÝ THUYẾT VỀ NGUYÊN NHÂN GÂY RA NỢ XẤU 2. Khái niệm nợ xấu Có rất nhiều góc nhìn và quan điểm khác nhau về khái niệm nợ xấu nó tùy thuộc vào cách tiếp cận cũng như quan điểm của những người nghiên cứu. Thuật ngữ “nợ xấu” trong tiếng Anh ngoài từ “Non –performing loan” có thể được thay thế bằng các thuật ngữ khác như “Bad debt” hay “Doubtful debt” (Fofack, 2005). Nợ xấu chỉ các khoản vay quá hạn trên 90 ngày không thu hồi được gốc và lãi (Rose, 2009; Miskin, 2010).
Nhìn chung, khái niệm nợ xấu không hoàn toàn đồng nhất ở các quốc gia khác nhau. Sau đây là một số khái niệm về nợ xấu được tham khảo phổ biến như sau: Theo AEG (2014), “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi suất chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã thanh toán dưới 90 ngày nhưng có những lý do để nghi ngờ rằng các khoản thanh toán sẽ được thực hiện đầy đủ”. Cùng quan điểm với AEG, nhận định của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF-International Monetary Fund) được đưa ra như sau: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ không được thực hiện đầy đủ” (IMF's Complication Guide on Financial Soundness Indicators, 2004). Nói cách khác, để các định nợ xấu liên quan đến 2 nhân tố: (i) Quá hạn trên 90 ngày và (ii) Nghi ngờ khả năng trả nợ.
Trong khi đó, định nghĩa về nợ xấu vẫn chưa được Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) xác định một cách cụ thể. Ủy ban Basel xác định khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện bất cứ động thái gì để thu hồi nợ ví dụ như xử lý tài sản đảm bảo; (ii) người 8 vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Và BCBS đặc biệt nhấn mạnh đến khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tương lai” (expected loss) khi đánh giá một khoản vay. Tại Việt Nam, nợ xấu được hiểu là những khoản nợ đang tồn tại trên danh mục tín dụng của ngân hàng có chất lượng dưới chuẩn (under standard) trong hệ thống phân hạng nợ của ngân hàng.
Định nghĩa nợ xấu theo tiêu chuẩn của Việt Nam được NHNN quy định tại Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ban hành ngày 30/7/2021 của Ngân hàng Nhà nước thì nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Trong đó, tiêu chí đánh giá nợ xấu được quy định trong Thông tư này cũng chủ yếu dựa vào thời gian quá hạn trả nợ trên 90 ngày và khả năng trả nợ của khách hàng. Tỷ lệ nợ xấu/tỷ lệ nợ quá hạn trên 90 ngày = dư nợ quá hạn trên 90 ngày/tổng dư nợ cho vay*100%. Tóm lại, theo các khái niệm trên thì nợ xấu được xác định theo 2 nhân tố chính: (i) nợ quá thời hạn thanh toán cả gốc, lãi từ 90 ngày trở lên và (ii) sự nghi ngờ về khả năng trả nợ của người đi vay.
Bài viết cũng sử dụng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ trong các báo cáo chính thức theo tiêu chuẩn kế toán Việt Nam của các NHTM trong việc thực hiện nghiên cứu định lượng. Phân loại nợ xấu Phân loại nợ là việc phân chia các khoản nợ trong danh mục cho vay của TCTD vào các nhóm khác nhau tương ứng với mức độ rủi ro của khoản nợ đó đối với TCTD. Hiện nay việc phân loại nợ vẫn chưa có tiêu chuẩn kế toán quốc tế thống nhất (Laurin và cộng sự,2002). Việc tiếp cận phân loại nợ được chịu trách nhiệm bởi người quản lý hoặc chỉ là vấn đề báo cáo giám sát.
Dựa trên các tiêu chí về mức độ rủi ro và điểm tương đồng các khoản vay, ngân hàng tiến hành xem xét và đánh giá các khoản vay để sắp xếp vào những nhóm tương ứng. Phân loại nợ cần được thực hiện thường xuyên và liên tục vì việc này có thể giúp cho ngân hàng kiểm soát chất lượng danh mục cho vay và trong trường hợp xấu nhất sẽ có biện pháp ngăn ngừa xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong chất lượng tín dụng 9 của các danh mục cho vay giúp cho quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng được diễn ra ổn định. Trong các nước G10 gồm Bỉ, Canada, Pháp, Ý, Nhật, Hà Lan, Anh, Mỹ, Đức, Thụy Điển và Thụy Sĩ, Mỹ và bao gồm cả Đức đã sử dụng cách tiếp cận phân loại nợ rõ ràng. Ở một số quốc gia không có cơ chế quản lý chi tiết, các nhà quản lý ngân hàng thường có trách nhiệm phát triển các quy định và quy trình phân loại nợ nội bộ.
Theo quy định của NHNN Việt Nam, nợ của các TCTD được chia thành 5 nhóm theo chất lượng như sau: Nhóm 1 - Nợ đủ tiêu chuẩn là các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết. Nhóm 2 - Nợ cần chú ý là các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết nhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng thực hiện cam kết.
Nhóm 3 -Nợ dưới tiêu chuẩn. Là nợ có khả năng tổn thất một phần gốc và lãi, gốc và/hoặc lãi đã quá hạn trên 90 ngày, hoặc tài sản đảm bảo của khoản nợ đó bị giảm giá trị dẫn đến mất mát nếu không có biện pháp xử lý kịp thời. Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ. Là nợ có khả năng tổn thất cao được xác định là không thể thu hồi được gốc và/hoặc lãi đã quá hạn trên 180 ngày.
Nhóm 5 - Nợ không có khả năng thu hồi. Các khoản nợ được cho là mất vốn khi gốc và/hoặc lãi đã quá hạn trên 1 năm. Trong đó, các khoản nợ xấu bao gồm nợ từ nhóm 3 trở xuống. Lý thuyết về nguyên nhân gây ra nợ xấu 10 2.
Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) Lý thuyết thông tin bất cân xứng lần đầu tiên được đề cập bởi George Akerlof vào năm 1970. Theo đó, thông tin bất cân xứng xảy ra khi các thành phần của thị trường không có sự cân bằng trong việc nắm giữ thông tin giữa các bên tham gia giao dịch. Dẫn đến một bên tham gia giao dịch sẽ chiếm được lợi thế do có nhiều thông tin hơn các bên còn lại. Khi đó, giá cả không phải là giá cân bằng của thị trường mà có thể quá thấp hoặc quá cao.
Bất cân xứng thông tin sẽ dẫn đến hai hệ quả phổ biến nhất, đó là rủi ro ngược hay còn gọi là sự lựa chọn đối nghịch (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard). Lựa chọn nghịch là hành động xảy ra trước khi tiến hành giao dịch của bên có nhiều thông tin, biết rõ hơn một hay một vài tính chất của sản phẩm mà đối tượng kia không biết dẫn đến có thể gây tổn hại hoặc rủi ro cho bên có ít thông tin hơn. Rủi ro đạo đức là hành động của bên có nhiều thông tin hơn thực hiện sau khi ký kết hợp đồng có thể gây tổn hại cho bên có ít thông tin hơn. Trong hoạt động cho vay, tình trạng thông tin bất cân xứng dễ dàng xuất hiện khi ngân hàng khó có thể quan sát được có xu hướng gian dối, không trung thực hay biểu hiện những hành vi không tốt khiến các ngân hàng dễ rơi vào tình trạng cho vay các khách hàng xấu và mất đi các khách hàng tốt vì ngân hàng luôn là người có ít thông tin về dự án, về mục đích sử dụng khoản tín dụng được cấp hơn khách hàng.
Lý thuyết chu kỳ kinh doanh (Business Cycle Theory) Chu kỳ kinh doanh là một dao động của tổng sản lượng quốc dân, của thu nhập và việc làm, thường kéo dài trong một giai đoạn từ 2 đến 10 năm, được đánh dầu bằng một sự mở rộng hay thu hẹp trên quy mô lớn trong hầu hết các khu vực của nền kinh tế. Chu kỳ kinh doanh có 02 giai đoạn chính là suy thoái và hưng thịnh. Các đỉnh và đáy là những điểm chuyển hướng của chu kỳ. Một chu kỳ thường trải qua các giai đoạn là thu hẹp sản lượng, suy thoái, phục hồi và hưng thịnh.
Thông thường, chu kỳ kinh doanh được đo lường bằng cách xem xét sự biến động của tăng trưởng GDP thực (hay còn gọi là tăng trưởng kinh tế) xoay 11 quanh xu hướng dài hạn của chính nó. Tùy vào tình trạng nền kinh tế đang trong giai đoạn nào mà các ngân hàng đưa ra chính sách tín dụng mở rộng hoặc thu hẹp. Ở giai đoạn GDP tăng đồng nghĩa với thu nhập của người dân tăng lên giúp tăng khả năng thanh toán nợ vay, do đó nợ xấu giảm và ngược lại khi nền kinh tế suy thoái thì sẽ là nguyên nhân gia tăng tỷ lệ nợ xấu. Những chỉ tiêu đo lường nợ xấu Thông thường để đo lường nợ xấu, các NHTM thường sử dụng một số chỉ tiêu sau đây 2.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = ∗ 100% Tổng dư nợ Tỷ lệ để đánh giá chất lượng hoạt động và rủi ro cho vay của các tổ chức tín dụng.