Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng chung về chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên HOSE Chương 4: Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của các công ty niêm yết trên HOSE Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn (Điều 110 - Luật Doanh nghiệp 2014). Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.
Ngoài cổ phần phổ thông, công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi. Cổ phần ưu đãi gồm các loại: Cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ phần ưu đãi cổ tức; Cổ phần ưu đãi hoàn lại; Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định. Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông. Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định. 4 Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau.
Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông. Cổ đông phổ thông có các quyền: Tham dự và phát biểu trong các Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện theo ủy quyền hoặc theo hình thức khác do pháp luật, Điều lệ công ty quy định. Mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết; Nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông; Ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty; Tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác; Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông; Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty; Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông, số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định.
Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết có các quyền: Biểu quyết về các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông; Các quyền khác như cổ đông phổ thông. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác. Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm. Cổ tức được chia hằng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng, cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty.
Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức có các quyền: Nhận cổ tức theo quy định; nhận phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty, sau khi công ty đã thanh toán hết các khoản nợ, cổ phần ưu đãi hoàn lại khi công ty giải thể hoặc phá sản; và các quyền khác như cổ đông phổ thông nhưng không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. 5 Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại có các quyền khác như cổ đông phổ thông nhưng không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát.
Cổ tức được hiểu là một phần lợi nhuận của doanh nghiệp chia cho cổ đông, được gọi là thu nhập của cổ đông. Trừ trường hợp cổ phiếu ưu đãi, cổ tức không cố định. Vì cổ tức là phần thu nhập hưởng trên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, mà điều này không cố định, nên đây là khoản bị lệ thuộc. Vả lại, vì giá cổ phiếu thay đổi theo thời gian, và giá trị đầu tư vào một đơn vị cổ phần cũng khác nhau theo thời gian, nên không thể áp cách tính tương đối (%) cho mọi thời điểm sở hữu cổ phần khác nhau.
Nhà đầu tư khi nhận cổ tức là nhận một khoản chia lợi nhuận trên khoản đầu tư của mình. Xét trên vị thế đầu tư, đối với người cầm cổ phiếu, khoản này vẫn còn là một ẩn số "x" ở phía trước nên khi muốn tham khảo các "đáp số" cũ (cổ tức đã được trả), họ cần một con số tuyệt đối (số tiền cụ thể) để làm các phép tính so sánh tương đối. Trả cổ tức bằng tiền là việc doanh nghiệp trả cổ tức bằng tiền mặt trực tiếp hoặc chuyển tiền mặt vào tài khoản chứng khoán cho cổ đông. Tại thị trường chứng khoán Việt Nam, khi 1 doanh nghiệp công bố tỷ lệ trả cổ tức bằng tiền, thì tức là dựa trên mệnh giá cổ phiếu (tương ứng 10.
Trả cổ tức bằng cổ phiếu là việc doanh nghiệp sẽ phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông. Việc phát hành thêm cổ phiếu (để chi trả cổ tức) không làm thay đổi vốn chủ sở hữu cũng như tỷ lệ nắm giữ của cổ đông. Đối với việc trả cổ tức bằng tiền, dòng tiền từ lợi nhuận sau thuế sẽ đi ra khỏi doanh nghiệp. Cụ thể là được chi trả trực tiếp bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản tiền mặt vào tài khoản của từng cổ đông.
Đối với việc trả cổ tức bằng cổ phiếu, dòng tiền về cơ bản vẫn ở trong doanh nghiệp. Chỉ có sự thay đổi từ khoản mục Lợi nhuận sau thuế (chưa phân phối) chuyển sang khoản mục Vốn góp của chủ sở hữu. Các lý thuyết liên quan đến chính sách cổ tức Formatted: Level 3 Tùy theo từng loại hình công ty và mức lợi nhuận đạt được mà việc phân phối lợi nhuận của từng công ty có sự khác nhau. Tuy nhiên, nhìn cung lợi nhuận của công ty được phân phối như sau: - Nộp thuế thu nhập cho nhà nước theo quy định; 6 - Bù đắp các khoản lỗ của năm trước không được tính vào lợi nhuận sau thuế; - Bù đắp các khoản chi không được tính vào chi phí; - Lập, trích các quỹ dự phòng; - Chia lãi cho chủ sở hữu; - Bổ sung vốn để tái đầu tư.
Trong công ty cổ phần lợi nhuận sau thuế của công ty một phần dùng để phân phối cho chủ sở hữu và phần còn lại sẽ trích lập cho các quỹ, dự phòng, các khoản đầu tư cho tương lai. Chính sách phân chia lợi nhuận sau thuế được gọi là chính sách cổ tức. Vậy chính sách cổ tức là chính sách ấn định phân phối giữa lợi nhuận giữ lại tái đầu tư và cổ tức chi trả cho cổ đông. Chính sách cổ tức có sự ràng buộc nhất định đến sự phát triển của công ty và là nguồn thông tin quan trọng đối với nhà đầu tư.
Ở mức độ nào đó, chính sách cổ tức có liên quan đến sự phát triển của thị trường tài chính. Đầu tư vào cổ phiếu cũng như là đầu tư vào trái phiếu. Khi đầu tư vào trái phiếu, nhà đầu tư nhận được lợi tức từ người phát hành, trong khi đầu tư vào cổ phiếu thì ngoài thu nhập trên vốn thì nhà đầu tư còn nhận được cổ tức. Vì vậy, vấn đề chi trả cổ tức của công ty có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nhà đầu tư.
Trong các báo cáo của công ty, cổ tức được xem như là một thông tin rất quan trọng của công ty đối với nhà đầu tư, đôi khi lại quan trọng hơn là thông tin về thu nhập của công ty. Khi thị trường tài chính phát triển và có hiệu quả hơn, nhiều người nghĩ rằng chính sách cổ tức trở nên không liên quan đến nhà đầu tư. Tuy nhiên cho đến nay, đã có nhiều tranh luận về mặt lý thuyết về tầm quan trọng của chính sách cổ tức của công ty.