đặt vấn đề khi xem xét về việc ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân. Về mặt lý thuyết, những người đã lập gia đình sẽ ít ưa mạo hiểm hơn, mục đích sử dụng vốn vay chủ yếu để phục vụ cho tiêu dùng gia đình, suy nghĩ hành động chín chắn hơn những người độc thân nên khả năng trả nợ đúng hạn của họ cũng cao hơn. Tuy nhiên nghiên cứu của Chapman (1990) không tìm thấy mối quan hệ giữa hai biến số này, nghiên cứu của Wongnaa lại chứng minh điều ngược lại khi 22 cho rằng người đã kết hôn phải tiêu tốn phần lớn thu nhập của mình cho các khoản chi tiêu gia đình nên khả năng hoàn trả nợ vay không cao hơn so với người độc thân.4 Đặc điểm nghề nghiệp Nghề nghiệp của khách hàng là một nhân tố ảnh hưởng nhất định tới khả năng trả nợ vay đúng hạn của khách hàng cá nhân. Đối với những cá nhân có nghề nghiệp ổn định, có vị trí xã hội, có kinh nghiệm lâu năm hay công tác ở những lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn nghiệp vụ vững vàng thì khả năng trả nợ đúng hạn là cao hơn.
Đó là do những khách hàng này có khả năng tạo ra thu nhập cao và ổn định hơn những nghề nghiệp khác. Trong nghiên cứu của Chapman (1990) cho thấy khách hàng là giáo sư, nghệ sĩ hay kế toán, nhân viên văn phòng có khả năng trả nợ đúng hạn cao, còn những công nhân không lành nghề thường xảy ra tình trạng trễ hạn nợ vay hơn.2 Các yếu tố liên quan đến khoản vay 2.1 Số tiền vay vốn Về mặt lý thuyết có thể nhận định nếu khoản vay lớn thì rủi ro trả nợ không đúng hạn càng cao. Nghiên cứu của Roslan và Zaini (2009), Abraham (2002) chỉ ra rằng kích cỡ khoản vay có tác động tiêu cực đến khả năng trả nợ của khách hàng. Tuy nhiên Chapman (1990) thống kê cho thấy những khoản vay có kích cỡ nhỏ lại thường hay trễ hạn nhất, kế đến mới là khoản vay lớn nhất sau đó mới đến những khoản vay có kích cỡ trung bình.
Kohansal và Mansoori (2009) cũng chứng minh là kích cỡ khoản vay có mối tương quan thuận với khả năng trả nợ đúng hạn. Các tác giả giải thích điều này rằng những khoản vay lớn sẽ giúp người vay tạo ra giá trị dễ dàng hơn, gia tăng nguồn trả nợ, còn những khoản vay nhỏ đơn thuần là phục vụ cho mục đích chi tiêu gia đình hoặc xử lý những tình huống khẩn cấp.2 Lãi suất vay Lãi suất là giá cả của tín dụng, là chi phí sử dụng vốn của khách hàng khi vay nợ, ảnh hưởng đến thu nhập cũng như nguồn trả nợ của khách hàng. Khách hàng nào có rủi ro cao hơn thì sẽ phải trả lãi suất cao hơn tương ứng. Do đó yếu tố lãi suất là một biến số quan trọng khi đưa vào xem xét sự tác động của nó đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân.
Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm cũng chỉ ra rằng lãi suất khoản vay càng cao thì khả năng trả nợ không đúng hạn càng cao. Như nghiên cứu của tác giả Trương Đông Lộc và Nguyễn Thanh Bình (2011) kết luận lãi suất luôn là vấn đề được người đi vay quan tâm vì nó ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của họ, kết quả phân tích cũng cho thấy lãi suất có mối tương quan tỷ lệ nghịch với khả năng trả nợ đúng hạn của nông hộ, cụ thể nếu lãi suất càng cao thì khả năng trả nợ vay càng thấp và ngược lại. Nghiên cứu của Kohansal và Mansoori (2009) cũng cho kết quả tương tự như trên với biến số lãi suất khoản vay.3 Thời gian vay vốn Thời gian cho vay được xác định dựa trên đặc điểm chu kỳ kinh doanh, kế hoạch sử dụng vốn của người vay và nguồn trả nợ của khách hàng. Thời gian đáo hạn khoản vay cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Trên lý thuyết có thể cho rằng khách hàng tự đánh giá bản thân có rủi ro tín dụng thấp sẽ thích vay vốn với thời hạn ngắn nhằm giảm chi phí lãi vay, hoàn thành nghĩa vụ nợ càng nhanh càng tốt. Qua nghiên cứu thực nghiệm, Chapman (1990) đưa ra kết quả thống kê cho rằng thời gian đáo hạn từ một năm trở xuống có xác suất trả nợ đúng hạn cao hơn. Tuy nhiên nghiên cứu của Roslan và Zaini (2009) lại cho rằng thời gian vay vốn càng dài thì khả năng trả nợ của khách hàng sẽ tốt hơn.4 Hình thức đảm bảo khoản vay Hình thức đảm bảo khoản vay cũng là một nhân tố có ít nhiều tác động đến ý thức trả nợ của khách hàng. Khi thế chấp tài sản tại ngân hàng, nếu khách hàng 24 không hoàn thành đủ các nghĩa vụ trả nợ vay, ngân hàng sẽ phát mãi tài sản để thanh toán nợ, do đó tâm lí sợ tổn thất tài sản cá nhân nên người vay sẽ có ý thức về việc trả nợ tốt hơn vay tín chấp, khi cho rằng ngân hàng không có căn cứ tài sản gì để thu hồi trong trường hợp khách hàng không hợp tác thực hiện cam kết trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng.4 Các mô hình nghiên cứu trước đây 2.1 Mô hình định tính – Mô hình 5C Đây là mô hình xem xét thiện chí và khả năng thanh toán các khoản vay đến hạn của khách hàng.
Theo giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại (Trần Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc, 2012), phương pháp này nghiên cứu 5 tiêu chí của người đi vay, bao gồm: tư cách (Character), năng lực (Capacity), thu nhập (Cash), bảo đảm (Collateral) và điều kiện (Conditions). Tất cả tiêu chí này đều phải được đánh giá tốt thì khoản vay mới được xem là khả thi. - Tư cách người vay (Character): cán bộ tín dụng phải chắc chắn tin rằng khách hàng vay có mục đích sử dụng vốn rõ rang và có thiện chí trả nợ, trách nhiệm với khoản vay, xem xét lịch sử vay trả nợ đối với khách hàng cũ, hay thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như Trung tâm thông tin tín dụng, ngân hàng khác đối với khách hàng mới. Cán bộ phân tích, đánh giá tính hợp pháp, nghiêm túc về mục đích vay vốn có phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng hay không, có phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng v kế hoạch trả nợ của khách hàng hay không.
Nếu khách hàng thể hiện sự trung thực và cho thấy tính khả thi của phương án thì tư cách vay vốn được xác lập. - Năng lực pháp lý của người vay (Capacity): đối với khách hàng cá nhân vay vốn thì cá nhân đó phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự để ký kết hợp đồng tín dụng. - Thu nhập của người vay (Cash): đây là một nội dung quan trọng đối với một yêu cầu xin vay vốn nhằm xác định khả năng tạo đủ tiền để đáp ứng yêu cầu hoàn trả khoản vay cho ngân hàng. Nguồn trả nợ của người vay được xác định như luồng 25 tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền từ thanh lý tài sản hoặc tiền từ phát hành chứng khoán,… - Bảo đảm tiền vay (Collateral): đây là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất à thu nhập của người vay không thể thanh toán đầy đủ khoản nợ.
Cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đến tình trạng của tài sản đảm bảo như tuổi thọ, khả năng mất giá tài sản, mức độ chuyên dụng hay tình trạng thế chấp của tài sản. Tài sản đảm bảo giống như một sự ràng buộc trách nhiệm của người vay đối với ngân hàng trong trường hợp khách hàng vay không có khả năng hoàn trả nợ vay thông qua việc xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ vay cho ngân hàng. - Các điều kiện (Conditions): cán bộ tín dụng cần tìm hiểu về xu hướng hiện hành về ngành nghề của khách hàng cũng như khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến khoản cho vay, cụ thể là ảnh hưởng đến nguồn trả nợ của khách hàng. Ngoài phương pháp phân tích 5C, các ngân hàng thường sử dụng phương pháp phân tích định tính tương tự khác là phân tích CAMPARI, gồm các nội dung: tư cách của người vay (Character), năng lực người vay (Ability), lãi cho vay (Margin), mục đích vay (Purpose), số tiền vay (Amount), hoàn trả (Repayment) và bảo đảm (Insurance).
Tuy nhiên cả hai phương pháp nêu trên đều có nhược điểm là phân tích định tính, các quyết định mang tính chất phán xét chủ quan của cán bộ tín dụng.2 Mô hình điểm số tín dụng cá nhân của FICO Tại một số nước phát triển, để giúp cho các tổ chức tín dụng có thể ước lượng mức rủi ro khi cho vay, người ta sử dụng điểm số tín dụng cá nhân (credit score) như một phương tiện kiểm soát tín dụng. Điểm tín dụng càng thấp thì mức rủi ro của người cho vay càng cao. Mô hình điểm số FICO do Fair Isaac Corp xây dựng với mức điểm từ 300 đến 850 dành cho khách hàng cá nhân dựa vào tỷ trọng của 5 chỉ số phân tích dưới đây: Bảng 2.1 Các chỉ số mô hình điểm số FICO 26 Tỷ trọng Tiêu chí đánh giá Lịch sử trả nợ: Thời gian trễ hạn càng dài và số tiền trễ hạn càng cao 35% thì điểm số tín dụng càng thấp Dư nợ tại các tổ chức tín dụng: Nợ quá nhiều so với mức cho phép 30% đặc biệt là đối với thẻ tín dụng sẽ làm giảm điểm số tín dụng Độ dài của lịch sử tín dụng: Thông tin càng nhiều năm càng đáng tin 15% cậy và điểm số tín dụng sẽ càng cao Số lần vay nợ mới: Vay nợ thường xuyên bị xem là dấu hiệu có khó 10% khăn về tài chính nên điểm số tín dụng càng thấp Các loại tín dụng được sử dụng: Các loại nợ khác nhau sẽ được tính 10% điểm số tín dụng khác nhau (Nguồn: Credit Scores: What you should know about your own,Credit Scores: What you should know about your own, Malgorzata Wozniacka và Snigdha Sen, 2004) Theo mô hình của FICO thì người có điểm số tín dụng ở mức 700 được xem là tốt, đối với cá nhân có điểm số tín dụng thấp hơn 620 sẽ có thể bị ngân hàng e ngại khi quyết định cho vay. Mô hình này được áp dụng rộng rãi tại Mỹ do các thông tin liên quan đến tình trạng tín dụng của mọi người có thể được ngân hàng kiểm tra dễ dàng qua các công ty dữ liệu tín dụng.