chương I về tổng quan nghiên cứu. Ở chương này tác giả đưa ra cái nhìn khái quát nhất về bài nghiên cứu, kiến thức nền tảng và giới thiệu các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, từ đó đưa ra hướng đi tốt nhất cho bài nghiên cứu của mình. Chương II tác giả sử dụng các mô hình để đánh giá tác động của các biến nội sinh bên trong ngân hàng đến khả năng sinh lời. Dựa vào các kết quả đã thấy ở chương II, chương III tác giả kết luận bài nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị đối với NHTM nhằm nâng cao khả năng của các ngân hàng.
TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về khả năng sinh lợi tại các NHTM 1.1 Khái niệm: Harward và Upton (1961, trang 147) phát biểu “khả năng sinh lợi là khả năng của một sự đầu tư nhất định có thể tạo ra lợi nhuận”. Khả năng sinh lợi cho thấy tính hiệu quả của việc quản lý các nguồn lực sẵn có trên thị trường để có thể tạo ra lợi nhuận (Amico et al. Tuy nhiên, một ngân hàng có khả năng sinh lợi cao chưa hẳn là tốt, để có mức khả năng sinh lợi như vậy có thể ngân hàng này đã chấp nhận một cơ cấu tài sản có độ rủi ro cao. “Khả năng sinh lợi là mục tiêu chính của tất cả các hoạt động kinh doanh.
Nếu không có khả năng sinh lợi, các hoạt động kinh doanh không thể tồn tại trong thời gian dài. Vì vậy, việc đo lường khả năng sinh lợi trong quá khứ, hiện tại và dự đoán khả năng sinh lợi trong tương lai đóng vai trò rất quan trọng” (Don Hofstrand, 2009). Theo Luật các Tổ chức Tín dụng ban hành ngày 16/06/2010, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như để đánh giá sự phát triển bền vững của một ngân hàng.
Hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng thanh toán và chỉ ra triển vọng phát triển trong tương lai của ngân hàng đó. Những ngân hàng hoạt động không hiệu quả sẽ gây ra những thua lỗ và nắm giữ những tài sản không thanh khoản, cuối cùng sẽ trở nên mất khả năng thanh toán. Trong môi trường cạnh tranh quốc tế, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng sinh lời của mỗi ngân hàng là cách tốt nhất để giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển một cách bền vững. 11 Ở cấp độ ngân hàng, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà ngân hàng nắm giữ.
Đó là khả năng ngân hàng có thể tạo ra lợi nhuận từ tất cả các hoạt động kinh doanh, có tính đến mức độ rủi ro. Khả năng sinh lợi được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau như tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE),… Để nâng cao khả năng sinh lợi, các ngân hàng phải tạo ra nguồn thu nhập ngày càng tăng, tiết kiệm chi phí hoạt động tới mức hợp lý, đồng thời phải hạn chế được rủi ro, thất thoát thông qua các chính sách, biện pháp quản lý hợp lý nhằm đảm bảo an toàn cho mỗi ngân hàng cũng như toàn hệ thống ngân hàng.2 Ý nghĩa: Đối với ngân hàng NHTMCP hay bất cứ một doanh nghiệp khác đều hoạt động với mục tiêu là tối đa hóa khả năng sinh lợi và tăng trưởng. Đối với ngân hàng, khả năng sinh lợi có ý nghĩa rất lớn, gắn liền với hiệu quả hoạt động kinh doanh, chỉ ra hướng phát triển của các ngân hàng. Bên cạnh đó, khả năng sinh lợi là cơ sở để ngân hàng ra các quyết định kinh doanh.
Một ngân hàng có khả năng sinh lợi cao sẽ tạo điều kiện nguồn vốn đa dạng và dồi dào, làm cơ sở cho việc tạo ra các tài sản có sinh lời. Bên cạnh đó nâng cao khả năng sinh lợi là điều kiện để các NHTMCP bảo toàn vốn, là điều kiện để các NHTMCP mở rộng thị trường cho vay, đầu tư vào việc đổi mới công nghệ thu hút khách hàng. Tuy nhiên, giữa khả năng sinh lợi và rủi ro có mối quan hệ đánh đổi, khả năng sinh lợi càng cao thì rủi ro càng cao. Vì vậy, các nhà quản trị ngân hàng phải luôn phải cân bằng sự đánh đổi giữa rủi ro và khả năng sinh lợi khi phân tích các tỷ số đo lường khả năng sinh lợi đạt được và rủi ro phải chấp nhận của các NHTMCP.
Đối với nền kinh tế 12 Ngân hàng là một trong những thành phần quan trọng của nền kinh tế, khả năng sinh lợi của ngân hàng là động lực, là đòn bẩy kinh tế của xã hội. Do vậy, nếu ngân hàng hoạt động có hiệu quả, đảm bảo tài chính ổn định và luôn tăng trưởng, có khả năng sinh lợi cao sẽ là yếu tố làm cho khu vực tài chính được lành mạnh hóa, góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, tăng trưởng kinh tế. Trong môi trường cạnh tranh quốc tế, nâng cao khả năng sinh lợi của mỗi ngân hàng là cách tốt nhất để giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển một cách bền vững, từ đó thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển, tăng uy tín quốc gia.3 Các chỉ tiêu biểu hiện cho khả năng sinh lời Để đo lường khả năng sinh lợi, các ngân hàng cần phải xem xét mức lợi nhuận, khả năng bù đắp chi phí cho những thất thoát xảy ra. Có rất nhiều chỉ số để đo lường khả năng sinh lời cho NHTM như NIM, ROCE,.
Dựa vào dữ liệu thu thập được, tác giả lựa chọn các chỉ số phù hợp nhất để đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng đối với bài nghiên cứu sau đây: - Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on asset - ROA) “ Tỷ số lợi nhuận trên tài sản là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. Chỉ tiêu này thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của ngân hàng so với tài sản của nó. ROA là tỷ lệ quan trọng nhất trong so sánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng vì nó cho ta biết hiệu quả của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời. ” Tỷ lệ ROA được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng chia cho tổng tài sản có bình quân của từng thời kỳ.
ROA = Lợi nhuận ròng/Tổng tài sản - Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on equity - ROE) Theo Sehrish Gul, Faiza Irshad và Khalid Zaman (2011): “Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường. Chỉ số này là 13 thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời. Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là tỷ lệ thu nhập ròng trên tổng vốn chủ sở hữu”. ROE được tính bằng công thức sau đây: ROE = Lợi nhuận ròng/Tổng vốn chủ sở hữu 1.2 Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi tại NHTM 1.1 Quy mô ngân hàng (Bank size - SIZE) “Quy mô ngân hàng thường được sử dụng để nắm bắt các lợi thế kinh tế và tính phi kinh tế nhờ quy mô trong ngân hàng.
Với tính lợi thế kinh tế nhờ quy mô, các ngân hàng có quy mô tài sản lớn sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi trong quá trình mở rộng phân phối sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệm các chi phí trong giao dịch, từ đó có thể tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, tính phi kinh tế nhờ quy mô có thể xuất hiện khi quy mô ngân hàng quá lớn, việc quản trị khối tài sản này đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao và tốn kém nhiều chi phí, từ đó sẽ làm giảm lợi nhuận”. “Nếu lợi thế kinh tế nhờ quy mô có ý nghĩa thì mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và khả năng sinh lợi là tương quan dương” (Goddard et al. Quy mô ngân hàng có mối tương quan thuận với khả năng sinh lợi của NHTM trong nghiên cứu của Athanasoglou et al.
Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Hassan và Bashir (2003); Sufian và Razali (2008) lại cho thấy “mối tương quan nghịch giữa quy mô ngân hàng và khả năng sinh lợi”.2 Vốn chủ sở hữu (Capital - CA) V ốn chủ sở hữu là lượng tiền mà ngân hàng phải có để hoạt động, là nguồn vốn riêng ” của ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lạ i. ” Bashr (2000), Abruand mendes (2002), Kosmidou et al. (2005), Alper và Anbar (2011) đã sử dụng biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu làm biến độc lập trong các nghiên cứu về các nhân 14 tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng, kết quả nghiên cứu cho thấy “vốn chủ sở hữu có mối tương quan thuận với khả năng sinh lợi của ngân hàng”. Vốn chủ sở hữu mang vai trò quan trọng quyết định sự phát triển tồn tại của ngân hàng.
Chỉ tiêu này mang lại sự đánh giá khả năng thanh toán của NHTM trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ. Vốn chủ sở hữu là một màng chắn chống lại rủi ro phá sản, tạo niềm tin đối với công. chúng và đảm bảo với chủ nợ về khả năng cũng như sức mạnh tài chính của ngân hàng.3 Tiền gửi của khách hàng (Deposits – DP) Theo Gul et al., (2011): “Tiền gửi của khách hàng là nguồn huy động vốn chính của ngân hàng, vì vậy nó có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng. Do đây là nguồn vốn huy động chủ yếu nên thu hút càng nhiều thì ngân hàng thương mại càng có khả năng đạt lợi nhuận cao hơn vì có vốn mạnh ngân hàng dễ dàng đẩy mạnh nghiệp vụ cho vay và mở rộng thêm các hoạt động sinh lời khác”.
“Tiền gửi của khách hàng được tìm thấy có mối tương quan thuận” trong các nghiên cứu của Javaid et al. Tiền gửi của khách hàng là nguồn vốn chủ yếu, chiếm phần lớn trong nguồn vốn huy động nói riêng và trong nguồn vốn kinh doanh của các NHTMCP nói chung.