Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA BIỆN PHÁP TỰ VỆ TRONG THUONG MẠI QUOC TE 1. Khái quát về biện pháp tự vệ trong thương mai quốc tế 1. Khai niệm biện pháp tự vệ thương mại Biện pháp tự vệ là một công cụ chính sách thương mại mà một quốc gia sử dụng để tạm thời bảo vệ ngành sản xuất trong nước khỏi sự gia tăng hàng nhập khâu đang gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng. Đây là biện pháp tạm thời và được áp dụng trong những trường hợp đặc biệt khi việc nhập khẩu một sản phẩm gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất các sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trong nước.
Mục đích của biện pháp tự vệ là tạo cơ hội cho ngành sản xuất trong nước điều chỉnh đề thích ứng với sự cạnh tranh ngày càng tăng của hàng nhập khẩu. Các biện pháp có thé dưới hình thức thuế quan hoặc hạn ngạch và thường được thực hiện trong một khoảng thời gian giới hạn. Các biện pháp tự vệ đứng trước xu hướng toàn cầu hóa hiện nay càng thé hiện được sự quan trọng của nó. Toàn cầu hóa đối với khía cạnh về kinh tế là quá trình phát triển ở trình độ cao của các quan hệ kinh tế quốc tế, biểu hiện chủ yếu ở sự tăng trưởng mạnh mẽ của các luồng hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ.
giữa các quốc gia; sự hình thành và phát triển của các thé chế, tổ chức quốc tế dé điều chỉnh, quản lý các dòng chảy quốc tế này. Vì vậy, toàn cầu hóa còn có nghĩa là quá trình xóa bỏ các rào cản đối với sự đi chuyền tự do của hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và lao động giữa các quốc gia, tạo lập thị trường giữa các quốc gia, mất dần biên giới, hình thành thị trường chung khu vực và tiến tới thị trường thong nhất toàn cau [41]. Đặc biệt, tự do hóa thương mại theo hệ thống GATT va WTO đã cắt giảm đáng ké và loại bỏ một số hang rào thuế quan và các thủ tục hai quan khác gây can trở thương mại. Kết quả là, các ngành công nghiệp trong nước đang được bảo vệ bằng thuế quan, sau khi gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế daa dan gỡ bỏ hàng rào thuế quan và thương mại, trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nước ngoài.
Để ngăn chặn hoặc khắc phục những thiệt hại cho ngành công nghiệp trong nước do cạnh tranh với các ngành công nghiệp nước ngoài do hệ quả của quá trình mở cửa thị trường, Hiệp định GATT của WTO đã đặt ra một khuôn khổ toàn diện về các quy định thương mại. Các biện pháp phòng vệ thương mại tồn tại trong hệ thống thương mại đa biên từ năm 1947 và dần được hoàn thiện qua các vòng đàm phán trong Hiệp định GATT gồm 3 trụ cột: chống bán phá giá (Điều VI Hiệp định GATT), chống trợ cấp (Điều VI Hiệp định GATT) và các biện pháp tự vệ (Điều XIX Hiệp định GATT). Các biện pháp nay được gọi là “các biện pháp phòng vệ thương mại” theo nghĩa là việc áp dụng chúng nhằm mục đích khôi phục sự công bằng trong quan hệ thương mại quốc tế. Các biện pháp này cho phép Chính phủ giải quyết các vấn đề nhập khâu một cách hợp pháp, bằng cách hạn chế số lượng hàng hóa nhập khẩu vào nước họ trong một số trường hợp.
Biện pháp tự vệ được coi là biện pháp bảo vệ mạnh nhất trong tat cả các biện pháp phòng vệ thương mại vì nó đi ngược lại mục tiêu chính của WTO là thiết lập một môi trường thương mại quốc tế cởi mở hơn, bằng cách ràng buộc Chính phủ với các cam kết về thương mại tự do. Biện pháp tự vệ thương mại được áp dụng ngay cả khi quốc gia đó tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật. Theo Điều XIX của Hiệp định GA TT và các quy định của Hiệp định SG, một biện pháp tự vệ cho phép một quốc gia “thoát” khỏi các nghĩa vụ liên quan đến cam kết cắt giảm thuế quan, nếu chứng minh được rằng số lượng hàng hóa nhập khẩu “đột ngột” tăng “gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất trong nước sản xuất các sản phâm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp” trong thời gian cần thiết để ngăn chặn hoặc khắc phục thiệt hại đó. Do đó, đôi khi nó được gọi là “điều khoản miễn trừ” vì nó cho phép các thành viên WTO “thoát khỏi” các nghĩa vụ của họ trong những trường hợp đặc biệt.
Trang tin của Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (United States Trade Representative) định nghĩa về biện pháp tự vệ thương mại như sau [57]: 10 “Các biện pháp tự vệ hạn chế nhập khẩu tạm thời một sản phẩm nếu ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại nghiêm trọng hoặc có nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trong do lượng nhập khẩu tăng đột biến. ” Trang tin của Ủy ban thương mại quốc tế thuộc Bộ Thương mại Hoa Kỳ (International Trade Administration) định nghĩa về tự vệ thương mại như sau [56]: Biện pháp tự vệ là biện pháp hạn chế nhập khâu tạm thời (ví dụ hạn ngạch hoặc tăng thuế quan) mà một quốc gia được phép áp dụng đối với một sản phẩm nếu việc nhập khẩu sản pham đó đang tăng lên gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước mà ngành sản xuất đó sản xuất một sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp. WTO không đưa ra định nghĩa cu thé mà chỉ ra biện pháp tự vệ được thực hiện như sau [60]: Một thành viên WTO có thể thực hiện hành động “tự vệ” (nghĩa là tạm thời hạn chế nhập khẩu một sản phẩm) dé bảo vệ một ngành sản xuất nội địa cụ thể khỏi việc gia tăng nhập khâu bất kỳ sản phẩm nào đang gây ra hoặc có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành đó. Trong khi đó Hiệp định SG quy định tại Điều 2 về biện pháp tự vệ như sau [28]: 1.
Một Thành viên chỉ có thé áp dụng biện pháp tự vệ đối với một sản phẩm nêu Thành viên đó đã xác định, theo các điều khoản nêu dưới đây, rằng sản phẩm đó đang được nhập khâu vào lãnh thổ của mình với số lượng gia tăng, tuyệt đối hoặc tương đối so với sản xuất trong nước và trong các điều kiện gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước sản xuất các sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp. Các biện pháp tự vệ được áp dụng đối với một sản phẩm nhập khẩu không phân biệt nguồn gốc. Liên minh châu Âu (EU) mô tả các biện pháp tự vệ như sau [55]: Các biện pháp tự vệ có thể được thực hiện khi một ngành bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng đột ngột, mạnh và không lường trước được của việc nhập 11 khẩu một sản pham nhất định và các nhà sản xuất không thê thích ứng một cách hợp lý với tình hình thương mại thay đổi. Biện pháp này khác với các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp ở chỗ nó không xử lý hàng nhập khẩu được giao dịch không công băng, do đó áp dụng cho tất cả các nước xuất khâu sản phẩm.
Định nghĩa về biện pháp tự vệ trong các nguồn trên có điểm chung là đề cập đến các biện pháp tạm thời được áp dụng để hạn chế hoặc ngăn chặn sự gia tăng đột ngột và đáng kề của việc nhập khẩu sản phẩm cụ thể, nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước khỏi thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng do sự gia tăng nhập khẩu. Các biện pháp này có thể bao gồm việc hạn ngạch nhập khẩu, tăng thuế quan hoặc các biện pháp khác nhằm giảm sự tác động của hàng hóa nhập khẩu tới ngành sản xuất trong nước. Tuy các định nghĩa này có phần khác biệt về cách diễn đạt và mức độ chi tiết, nhưng diém chung của chúng là nhắn mạnh vào mục tiêu bảo vệ ngành sản xuất trong nước khỏi tác động tiêu cực của nhập khâu tăng đột ngột và đáng kê của một sản phâm cụ thé. Điều này thé hiện sự tương đồng trong cách các quốc gia và tô chức quốc tế định hình và hiéu về biện pháp tự vệ thương mại.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì tự vệ thương mại là một biện pháp nằm trong các biện pháp phòng vệ thương mại. Theo khoản 1 Điều 67 Luật Quản lý ngoại thương 2017, các biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm biện pháp chống bán phá giá, biện pháp chống trợ cấp và biện pháp tự vệ do Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định áp dụng đối với hàng hóa nhập khâu vào Việt Nam trong những trường hợp cụ thể. Như vậy, biện pháp phòng vệ thương mại có thé được hiểu là những biện pháp tạm thời về thương mại, nhằm ngăn chặn, hạn chế hàng hóa nhập khẩu trong những trường hợp cụ thé, bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước những đối thủ cạnh tranh nước ngoài [32]. Pháp lệnh số 42/2002 và Nghị định 150/2003/NĐ-CP déu không đưa ra quy định cu thé thế nào là tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài.
Đến Luật Quản lý ngoại thương 2017 quy định về biện pháp tự vệ thương mại tại Điều 91 như sau: 12 1. Biện pháp tự vệ trong nhập khâu hang hóa nước ngoài vào Việt Nam (sau đây gọi là biện pháp tự vệ) là biện pháp được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được nhập khẩu quá mức vào Việt Nam gây ra thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng của ngành sản xuất trong nước. Khi ngành sản xuất trong nước có thiệt hại nghiêm trọng hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng bởi sự gia tăng hàng hóa nhập khẩu đột ngột và không lường trước được, quốc gia đó có thé áp dụng một biện pháp về thương mại dé tạm thời bảo vệ ngành sản xuất trong nước và biện pháp thương mại này được gọi tên là biện pháp tự vệ. Biện pháp tự vệ là tạm thời và chỉ trong những trường hợp đặc biệt thì nó sẽ được áp dụng.
Ngành sản xuất trong nước ở đây được hiểu là ngành sản xuất các sản phâm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa đang nhập khẩu vào quốc gia và gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại.