đặt vấn đề và phân tích về khái niệm hiệu quả tín dụng, một khái niệm tƣởng chừng nhƣ quen thuộc nhƣng thực tế rất khó để có thể tìm thấy một tài liệu nào định nghĩa cụ thể hiệu quả tín dụng là gì Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần hình thành một khái niệm cụ thể về hiệu quả tín dụng dựa trên cơ sở chắt lọc và tổng hợp nhiều ý kiến khác nhau từ các nguồn tài liệu, sách báo về các vấn đề có liên quan và cả theo quan điểm của cá nhân tác giả. Về mặt thực tiễn, đề tài giúp cho các nhà quản trị ngân hàng có đƣợc cái nhìn tích cực về vấn đề quản trị hiệu quả tín dụng trong hoạt động cho vay nói chung và đối với cho vay KHCN nói riêng. Đồng thời đề tài nghiên cứu cung cấp một số biện pháp đƣợc xem nhƣ là công cụ để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với KHCN tại Ngân hàng Bảo Việt - Chi nhánh Hải Phòng. Kết cấu của luận văn Nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Tổng quan về tín dụng và hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Bảo Việt - Chi nhánh Hải Phòng giai đoạn 2011 - 2015 Chƣơng 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Bảo Việt - Chi nhánh Hải Phòng giai đoạn 2016 - 2020 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về tín dụng và hoạt động tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm tín dụng Tín dụng ngân hàng đƣợc coi là quan hệ vay mƣợn giữa một bên là ngân hàng với một bên là các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Trong quan hệ tín dụng này, ngân hàng là ngƣời cho vay và các cá nhân, tổ chức kinh tế là bên đi vay. Ngân hàng sẽ nhƣờng quyền sử dụng vốn của mình cho các cá nhân, tổ chức kinh tế có nhu cầu vay vốn.
Sau một thời gian sử dụng vốn của ngân hàng, các cá nhân, tổ chức kinh tế này phải có trách nhiệm trả cả vốn và lãi cho ngân hàng nhƣ đã thoả thuận. Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Kiều thì “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. [13], [14] Theo khoản 14, điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Cấp tín dụng là thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác”. Đặc điểm tín dụng - Cơ sở lòng tin là đặc điểm đầu tiên của tín dụng ngân hàng.
Điều này đƣợc thể hiện qua việc ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi tin tƣởng khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, có khả năng hoàn trả cả gốc và lãi vay đúng hạn. Cùng với đó, ngƣời đi vay cũng tin tƣởng vào khả năng tạo ra đƣợc tiền trong tƣơng lai từ việc vay vốn này để có thể trả gốc và lãi vay. - Đặc điểm thứ hai của tín dụng là sự chuyển nhƣợng một tài sản có thời hạn. Mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng có khả năng hoàn trả vốn đã huy động.
Để xác định thời hạn cho 5 vay hợp lí, ngân hàng phải căn cứ vào thời hạn nguồn vốn mà mình đã huy động, VCSH và quá trình luân chuyển vốn của đối tƣợng vay. Ngân hàng nào có nguồn vốn dài hạn và ổn định thì khả năng đáp ứng của ngân hàng đó cho các khoản tín dụng dài hạn sẽ cao. Vì vậy, nếu nguồn vốn của ngân hàng nào không ổn định, kì hạn ngắn mà ngân hàng đó lại cấp nhiều tín dụng dài hạn thì rủi ro trong thanh toán của ngân hàng sẽ bị tăng cao. Mặt khác, ngân hàng cũng phải đảm bảo thời hạn cho vay phù hợp với chu kì luân chuyển vốn của khách vay thì họ mới có khả năng trả nợ đúng hạn.
Do đó, nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kì luân chuyển vốn của khách vay thì họ không có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn. Nhƣng nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kì luân chuyển vốn thì tạo cơ hội cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, nảy sinh rủi ro tín dụng. [8], [20] - Đặc điểm thứ ba của tín dụng là nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm này thể hiện giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị gốc lúc cho vay ban đầu.
Nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc vay thì khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi. Đây là giá hay chi phí của quyền sử dụng vốn vay trong thời gian đi vay. Khoản lãi vay là doanh thu bù đắp cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng là một tổ chức trung gian tín dụng. - Tiềm ẩn rủi ro cao là đặc điểm thứ tƣ của hoạt động tín dụng trong ngân hàng.
Khả năng thu hồi gốc và lãi vay phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ bản thân khách hàng, giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trƣởng kinh tế, thị trƣờng, thiên tai… Khi khách hàng vay vốn gặp khó khăn do môi trƣờng kinh doanh thay đổi, ảnh hƣởng của khủng hoảng kinh tế thị trƣờng sẽ dẫn đến khả năng thanh toán nợ vay của họ bị giảm sút. Điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng nhƣ các khoản nợ quá hạn, nợ xấu, nợ mất vốn. - Đặc điểm cuối cùng của tín dụng là dựa trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lí chặt chẽ nhƣ: hợp đồng tín dụng, khế ƣớc vay tiền, hợp đồng bảo đảm tiền 6 vay, bảo lãnh… trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện các khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn theo đúng những điều khoản đã thỏa thuận.
Phân loại tín dụng * Căn cứ vào thời hạn tín dụng: - Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng ngân hàng cho khách vay trong thời hạn đến 1 năm với mục đích sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lƣu động tạm thời của các DN hoặc phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình. - Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng ngân hàng cho khách vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm với mục đích sử dụng chủ yếu để đầu tƣ mua sắm TSCĐ, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng SXKD và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. [14], [19], - Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng ngân hàng cho khách vay có thời hạn trên 5 năm với mục đích đáp ứng nhu cầu đầu tƣ dài hạn nhƣ xây dựng cơ bản, cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng SXKD của DN có quy mô lớn. * Căn cứ vào bảo đảm tín dụng: - Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng ngân hàng cho vay khi khách hàng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc phải có bảo lãnh từ ngƣời thứ ba.
Hình thức này áp dụng đối với những khách hàng không đủ uy tín. Đây là một biện pháp hạn chế những tổn thất rủi ro tín dụng có thể xảy ra cho ngân hàng khi khách hàng không có khả năng thanh toán trả nợ vay. - Tín dụng không có bảo đảm: Là loại tín dụng ngân hàng cho vay không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh từ ngƣời thứ ba. Chỉ những khách hàng truyền thống, có hệ số tín nhiệm cao mới đƣợc áp dụng loại tín dụng này.
[23], [28] * Căn cứ vào mục đích tín dụng: - Tín dụng bất động sản: Mục đích của loại tín dụng này là đầu tƣ vào bất động sản, bao gồm: Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai, 7 tín dụng trung dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ, trang trại và bất động sản ở nƣớc ngoài. - Tín dụng công thƣơng nghiệp: Loại tín dụng này cấp cho các DN với mục đích trang trải các chi phí nhƣ mua hàng hóa, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, chi trả thuế, chi trả lƣơng… - Tín dụng nông nghiệp: Mục đích của gói tín dụng này là cấp cho các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi gia súc. - Tín dụng tiêu dùng: Gói sản phẩm tín dụng này cấp cho cá nhân, hộ gia đình với mục đích mua sắm hàng hóa tiêu dùng đắt tiền nhƣ xe ô tô, trang thiết bị, đồ nội thất… [23] * Căn cứ vào chủ thể vay vốn: - Tín dụng DN hay còn gọi là tín dụng bán buôn: Gói sản phẩm này chủ yếu là các DN vay với giá trị lớn. - Tín dụng cá nhân, hộ gia đình hay còn gọi là tín dụng bán lẻ: Gói dịch vụ này dùng cho những KHCN thƣờng vay số tiền nhỏ với mục đích tiêu dùng.
- Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Gói dịch vụ này là khoản tín dụng dành cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác với mục đích vay vốn để hoạt động hoặc các nhu cầu thanh khoản cấp thiết. [28] * Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay: - Tín dụng trả góp: Đây là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi vay định kì thành những khoản bằng nhau. Loại tín dụng này thƣờng áp dụng cho những khoản vay giá trị lớn và thời hạn vay dài. - Tín dụng hoàn trả một lần: Đây là loại tín dụng mà khách hàng chỉ hoàn trả vốn gốc và lãi vay một lần khi đến hạn.
Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay nhỏ và có thời hạn vay ngắn. 8 - Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Với loại tín dụng này khách hàng có thể hoàn trả nợ vay bất cứ khi nào theo yêu cầu của khách hàng. Loại tín dụng này thƣờng áp dụng cho những khoản vay thấu chi, thẻ tín dụng.