phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực tại Trung tâm Phát triển quỹ đất Huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Một số biện pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Trung tâm Phát triển quỹ đất Huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng 4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Thuật ngữ “nguồn nhân lực” xuất hiện lần đầu vào đầu những năm 80 thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phƣơng thức quản lý hiện đại - quản lý trên cơ sở lấy con ngƣời tức nhân viên làm trung tâm thay vì cứng nhắc đặt tổ chức đứng hàng đầu. Xét trên tầm vĩ mô của nền kinh tế, theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Nguồn nhân lực là nguồn lực của con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện ra số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định”.
[9, tr6] Tác giả Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh thì cho rằng: “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại càng nhƣ trong tƣơng lai. Sức mạnh và khả năng đó đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”. [9, tr6] Tác giả Lê Thị Mỹ Linh đƣa ra quan điểm: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu đƣợc động viên, khuyến khích phù hợp”. Khái niệm này đó chỉ ra đƣợc sức mạnh tiềm ẩn của nguồn nhân lực trong tổ chức khi họ đƣợc động viên, khuyến khích kịp thời.
[6, tr5] Nói về nguồn nhân lực, Đảng ta xác định: “Nguồn lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”. [6, tr5] 5 Còn trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực thì định nghĩa: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dƣới dạng tiềm năng của con ngƣời”. Đây là cách tiếp cận nhấn mạnh về chất lƣợng nguồn nhân lực, quan tâm tới tiềm năng của con ngƣời. Chất lượng nguồn nhân lực Theo Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế thì: “Chất lƣợng là toàn bộ những tính năng và đặc điểm của một sản phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn những nhu cầu đó nếu ra và tiềm ẩn”.
Và ngƣời tạo nên chất lƣợng của sản phẩm, dịch vụ đó, xét trong phạm vi hẹp một tổ chức thì là tất cả lực lƣợng lao động của tổ chức đó. Theo sự phân tích của Tạ Ngọc Hải, Viện khoa học tổ chức Nhà nƣớc, dựa trên khái niệm: “Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công đạt đƣợc của mỗi tổ chức” thì: “chất lƣợng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận nhƣ trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe… của ngƣời lao động. Trong các yếu tố trên, trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng để xem xét và đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực.TS Bùi Văn Nhơn giải thích thì: Chất lƣợng nguồn nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội trong đó: [13, tr7] “Thể lực của nguồn nhân lực gồm: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần” “Trí lực của nguồn nhân lực gồm: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của ngƣời lao động”. “Phẩm chất tâm lý xã hội gồm: tính kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao…” Tổ chức Liên hợp quốc đƣa ra chỉ số để đánh giá sự phát triển con ngƣời HDI.
Theo phƣơng pháp này thì sự phát triển con ngƣời đƣợc xác định theo 3 yếu tố cơ bản gồm: sức khỏe (đƣợc đo bằng tuổi thọ bình quân của dân số); trình độ học vấn (thể hiện qua tỷ lệ dân số biết chữ, số năm đi học của một ngƣời) và thu nhập (đƣợc tính bằng tổng sản phẩm trong nƣớc GDP/ngƣời). 6 Đứng trên cách tiếp cận vĩ mô thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc đánh giá thông qua các tiêu thức: “Sức khỏe: thể lực và trí lực; Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn; trình độ lành nghề; Các năng lực, phẩm chất cá nhân (ý thức kỷ luật, tính hợp tác, ý thức trách nhiệm, sự chuyên tâm,…).” Nhƣ vậy, trên quan điểm của một nhà quản lý nguồn nhân lực ở tầm vi mô, từ việc trình bày các quan điểm khác nhau về chất lƣợng nguồn nhân lực, trong luận văn này, khái niệm về chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ sau: “Chất lƣợng nguồn nhân lực là toàn bộ những khả năng tiềm tàng bên trong con ngƣời bao gồm phẩm chất đạo đức, thể chất, thẩm mỹ và năng lực của con ngƣời có ảnh hƣởng quyết định đến việc hoàn thành những mục tiêu đề ra của mỗi tổ chức. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực bao hàm không chỉ nghiên về lĩnh vực trình độ lành nghề hoặc về vấn đề đào tạo nói chung mà còn là sự nâng cao năng lực và sử dụng năng lực đó của con ngƣời, tiến tới một việc làm hiệu quả và thỏa mãn nghề nghiệp cuộc sống cá nhân, quan điểm này xem xét nguồn nhân lực ở một phạm vi rộng. Nó không chỉ ở phƣơng diện lành nghề mà là quá trình hoàn thiện nhằm bổ sung, nâng cao kiến thức trong quá trình sống và làm việc nằm đáp ứng nhu cầu của con ngƣời.
Theo tác giả Vũ Bá Thể thì nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng con ngƣời lao động qua quá trình hoạt động trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý nhằm phát triển những kiến thức làm việc cơ bản, nâng suất, sự tinh thông và sự hài lòng. Đòi hỏi nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. [16, tr8] Theo GS-TSKH Nguyễn Minh đƣờng thì phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con ngƣời trên các mặt trí tuệ, kỷ năng lao động, thể lực, đạo đức… để họ có thể tham gia vào lực lƣợng lao động, làm giàu cho đất nƣớc góp phần cải tạo xã hội cũng nhƣ phát huy truyền thống của dân tộc. 7 Do đó nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực phải đƣợc tiến hành trên cả ba mặt là phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, tạo ra môi trƣờng thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển.
[16, tr8] Có rất nhiều cách tiếp cận nhƣng cái chung nhất, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực xã hội và tính năng động xã hội của con ngƣời về mọi mặt, đồng thời phân bổ sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó để phát triển tổ chức. Đó là quá trình để nâng cao năng lực cho con ngƣời dƣới dạng tiềm năng “vốn con ngƣời, vốn nhân lực” - Xét với góc độ kinh tế đây là quá trình đƣợc mô tả nhƣ sự tích lũy vốn có của con ngƣời và sự đầu tƣ có hiệu quả vào sự phát triển kinh tế. - Xét với góc độ chính trị - xã hội là quá trình tạo dựng một lực lƣợng lao động trung thành, chấp hành nghiêm các đƣờng lối chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, đảm bảo đƣợc về số lƣợng và chất lƣợng, trình độ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng lãnh thổ. - Xét với góc độ cá nhân thì nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là nâng cao tri thức, sức khỏe, kỷ năng thực hành để tăng năng suất lao động cải thiện cuộc sống.
Nói chung, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là quá trình tạo sự chuyển biến về số lƣợng và chất lƣợng với việc nâng cao hiệu quả sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tốt hơn trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, của vùng, của ngành hay của tổ chức. Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sánh, biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lƣợng sức lao động để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực 1. Thể lực Thể lực là trạng thái sức khỏe của ngƣời lao động biểu hiện ở chiều cao, cân nặng, hình thể, khả năng vận động, không có bệnh tật, có sức làm việc dẻo dai trong một hình thái lao động nghề nghiệp nhất định.
Thể lực không 8 khỏe mạnh sẽ hạn chế đến phát triển trí lực, trí tuệ của ngƣời lao động. Tiêu chí đánh giá thể lực ở các nƣớc thƣờng dùng các nhân tố trắc học: chiều cao, cân nặng và các chỉ số về sức khỏe, nhất là độ dẻo dai, thần kinh và tâm lý. Ở Việt Nam, đánh giá thể lực, ngƣời ta thƣờng đánh giá các tiêu chí về sức khỏe nhƣ: chiều cao, cân nặng, các giác quan nội khoa, ngoại khoa, thần kinh, tâm thần, tai, mũi, họng. Ngoài ra, việc đánh giá sức khỏe còn có thể thông qua các chỉ tiêu: tỉ lệ sinh, chết, biến động tự nhiên, tuổi thọ trung bình, cơ cấu giới tính.
Trên thực tế, đánh giá thể lực, ngoài đánh giá sức khỏe thể chất của ngƣời lao động không những bằng những tiêu chí đơn giản, mà còn dựa vào những tiêu chí phức tạp hơn nhƣ tình trạng ốm, tỉ lệ mắc bệnh nghề nghiệp, khả năng chịu đựng trong mọi điều kiện, khí hậu, điều kiện làm việc của ngƣời lao động. Ngƣời lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại năng suất lao động cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai.