Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN CÁ TRA XUẤT KHẨU 1.Vai trò của sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu đối với nền kinh tế tỉnh Đồng Tháp Nghề nuôi cá da trơn nói chung và cá tra nói riêng đã hình thành từ rất sớm vào những năm 1960 ở ĐBSCL với quy mô nhỏ, cung cấp thực phẩm tại chỗ. Vào thời điểm này nguồn giống chủ yếu được vớt trong tự nhiên. Đến năm 1997 với sự thành công trong nghiên cứu sinh sản nhân tạo hai loài cá tra và ba sa, đã chủ động được nguồn cung cấp giống và đưa nghề nuôi cá da trơn phát triển lên trình độ cao hơn từ nền sản xuất tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hoá. Trong thời gian này ở 13 tỉnh thành thuộc ĐBSCL và một số tỉnh phía Bắc bắt đầu nuôi cá tra, basa.
Đặc biệt trong những năm gần đây, phong trào khai thác đất bãi bồi ven sông để nuôi cá tra phát triển mạnh, góp phần làm tăng diện tích, năng suất và sản lượng cá nuôi. Tính đến năm 2007, ĐBSCL có tổng diện tích nuôi cá tra, basa khoảng 9.000 ha so với năm 2000, tăng gấp 10 lần và theo dự báo sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới. Sản lượng cá tra và basa của toàn vùng năm 2004 là 264.000 tấn đến năm 2007 sản lượng đạt khoảng 1,5 triệu tấn, bằng sản lượng quy hoạch của toàn vùng cho đến năm 2010 của ngành thuỷ sản. Các mô hình nuôi phổ biến là ao hầm, lồng bè và đăng quầng.
Tốc độ phát triển khá nhanh về diện tích, số người nuôi làm mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng đến môi trường, gây nên dịch bệnh cho cá. Tình trạng bất cập nhất hiện nay là “nhà nhà nuôi cá” bất kể có đúng quy trình kỹ thuật hay không, đất và nguồn nước có phù hợp cho nuôi loại cá này hay không. Hậu quả là tình trạng chất lượng cá không đảm bảo do nhiễm hoá chất, vi sinh đã làm giảm chất lượng hàng xuất khẩu, ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ. Nhiều hộ nuôi nhỏ lẻ, manh mún rất dễ gặp rủi ro khi thị trường tiêu thụ gặp khó khăn.
13 Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về diện tích và sản lượng của nuôi cá tra, basa cho thị trường xuất khẩu, ngành công nghiệp chế biến loại cá này cũng phát triển một cách nhanh chóng để có thể đáp ứng yêu cầu chế biến sản lượng cá tra, basa được sản xuất ra. Toàn vùng hiện có 70 nhà máy chế biến cá tra, basa xuất khẩu với công suất 1,5 triệu tấn, thì riêng Đồng Tháp và An giang đã có 34 nhà máy với công suất 301. Tuy nhiên việc phát triển nhà máy chế biến chưa theo quy hoạch, điều này có thể dẫn đến rủi ro mất cân đối vùng nguyên liệu và thị trường xuất khẩu. Sản phẩm chế biến ra khoảng 80% là dành cho xuất khẩu nên phụ thuộc vào thị trường nước ngoài.
Bên cạnh đó các doanh nghiệp còn phải đối mặt với nguy cơ kiện bán phá giá hay vi phạm các tiêu chuẩn về ATVSTP, mà những vấn đề này tác động không nhỏ đến sự phát triển, uy tín của doanh nghiệp… Xuất khẩu cá tra, basa Việt Nam liên tục tăng, trong năm 2007, sản lượng đạt 383.200 tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt 974,12 triệu USD tăng 31% về sản lượng và 26,07% về kim ngạch so với năm 2006. Giá xuất khẩu mặt hàng cá tra đông lạnh của Việt Nam trung bình là 2,58 USD/kg, giảm 0,017 USD/kg so với năm 2006 và tăng 0,2 USD/kg so với năm 2005. Theo dự báo năm 2008 giá xuất khẩu trung bình của mặt hàng này sẽ tăng mạnh, nguyên nhân là do giá dầu thô trên thế giới tăng nhanh sẽ làm tăng chi phí vận chuyển, đồng thời giá lương thực trên thế giới cũng liên tục tăng trong những tháng đầu năm 2008. Tính đến năm 2007 Việt Nam xuất khẩu cá tra, basa sang 98 quốc gia trên thế giới, tăng thêm 15 thị trường mới so với năm 2006.
Thị phần xuất khẩu năm 2007: EU tiếp tục là thị trường nhập khẩu cá tra, basa lớn nhất của Việt Nam, chiếm 42,20% về sản lượng và 40,13% về kim ngạch. Nga chiếm 11,17% về sản lượng và 8,28% về kim ngạch (giảm 25,9% về kim ngạch so với năm 2006 do Nga đã siết chặt rào cản về chất 14 lượng ATVSTP làm ảnh hưởng tới tốc độ xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam vào Nga). Các nước ASEAN chiếm 8,69% về sản lượng và 7,85% về kim ngạch, tuy chiếm một tỷ trọng không đáng kể nhưng đây lại là thị trường ít rủi ro nhất của cá tra xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới. Ucraina chiếm 6,1% về sản lượng và 4,1% về kim ngạch, đây là một thị trường mới của cá tra Việt Nam nhưng lại có tốc độ tăng trưởng cao nhất so với các thị trường mà Việt Nam xuất khẩu cá tra.
Hoa Kỳ và Hồng Kông lần lượt chiếm 3,55% và 3,26% về sản lượng 3,93% và 4,14% về kim ngạch, tuy chiếm một tỷ trọng khá khiêm tốn nhưng hai thị trường này lại là tiềm năng xuất khẩu cá tra của Việt Nam mà các doanh nghiệp chế của Việt Nam cần thâm nhập sâu hơn. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007 tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Đồng Tháp là 5.450 ha (trong đó nuôi cá tra bãi bồi 650 ha, nuôi cá tra ao hầm 900 ha, nuôi cá khác và sản xuất giống là 3.200 ha, nuôi tôm càng xanh là 700 ha). Sản lượng thuỷ sản cả năm đạt 236.120 tấn, trong đó sản lượng nuôi là 221.000 tấn, tôm càng xanh 1. Giá trị nuôi trồng thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng lên từ 353,3 tỷ đồng (chiếm 59,9% trong tổng giá trị nuôi trồng, khai thác và dịch vụ thuỷ sản) năm 2001 lên 2799,4 tỷ đồng (chiếm 73,6%) năm 2007.
Bên cạnh đó sản xuất và chế biến thuỷ sản xuất khẩu còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hơn 52.450 lao động (tính đến thời điểm năm 2006), và đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách của Tỉnh. Hiện nay trên toàn tỉnh có 8 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu với tổng công suất cấp đông khoảng 220 tấn/ngày. Trong các mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Đồng Tháp, mặt hàng thuỷ sản đông lạnh có giá trị xuất khẩu lớn nhất. Điều này chứng tỏ vai trò to lớn của sản xuất và 15 chế biến thuỷ sản xuất khẩu nói chung và sản xuất, chế biến cá tra xuất khẩu nói riêng trong cán cân thương mại của Tỉnh, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đồng Tháp nói riêng và của đất nước nói chung.: Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất nuôi trồng, khai thác và dịch vụ thuỷ sản của tỉnh Đồng Tháp Đơn vị tính: Tỷ đồng, % 2001 2005 2006 2007 Giá trị % Giá trị % Giá trị % Giá trị % Tổng giá trị SX 589,7 100 1672,8 100 2854,3 100 3805,4 100 Tr.
đó:- Nuôi trồng 353,3 59,9 1214,6 72,6 1972,4 69,1 2799,4 73,6 - Khai thác 166,2 28,2 137,4 8,2 199,3 7,0 125,9 3,3 - Dịch vụ 70,2 11,9 320,8 19,2 682,6 23,9 880,1 23,1 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp Bảng 1.: Giá trị xuất khẩu các mặt hàng của tỉnh Đồng Tháp Đơn vị tính: Tr USD, % 2004 2005 2006 2007 Năm Giá trị % Giá trị % Giá trị % Giá trị % Tổng giá trị XK 114,6 100 170,6 100 239,6 100 290,2 100 1.Thuỷ sản đông lạnh 37,8 33,0 59,7 35,0 118,1 49,3 148,1 51,0 3.Bánh phồng tôm 3,1 2,7 4,8 2,8 5,2 2,2 7,2 2,5 4.Quần áo may sẵn 12,5 10,9 10,7 6,3 7,5 3,1 8,7 3,0 5.Khác 11,2 9,7 14,1 8,3 25,3 10,6 46,1 15,9 Nguồn: Sở Thương mại Đồng Tháp 16 1. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới phát triển sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu 1.Nhân tố tự nhiên Thời tiết và khí hậu là nhân tố đầu tiên tác động đến quá trình sản xuất cá tra xuất khẩu, nếu thời tiết và khí hậu thuận lợi với điều kiện sống của cá thì chúng sẽ sinh trưởng và phát triển tốt. Ngược lại, thời tiết và khí hậu xấu chúng sẽ chậm lớn hoặc chết hàng loạt, gây thiệt hại lớn cho người nuôi. ĐBSCL là vũng trũng thích hợp để nuôi cá tra.
Nhưng bên cạnh đó, thuỷ triều đã xâm nhập mặn và tạo ra vùng sinh thái nước lợ khá rộng lớn làm ảnh hưởng tới diện tích nuôi cá tra, ảnh hưởng đến sản lượng chung của toàn vùng vì cá tra là loài cá sống nước ngọt. Lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm, vào mua khô thì hạn hán hiện tượng xâm nhập mặn trên diện rộng và xuất hiện phèn khá phổ biến ở nhiều nơi. Khi nắng hạn với những cơn mưa đầu mùa lượng nước mưa thải xuống ao, hồ nuôi làm nguồn nước bị ô nhiễm, cá tra bị nhiễm bệnh và chết hàng loạt nếu không chữa trị kịp thời, sẽ làm giảm năng suất vụ nuôi. Tình hình ô nhiễm môi trường ở các vùng sản xuất tập trung (khu công nghiệp, khu dân cư,…).
Trình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra khá phổ biến do quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá phát triển khá nhanh. Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống xử lý nước thải không đúng quy cách. Ô nhiễm môi trường là mối trở ngại lớn nhất đối với nghề nuôi cá tra xuất khẩu. Tác động của môi trường sẽ gián tiếp làm tăng chi phí sản xuất, tăng giá thành và làm giảm chất lượng sản phẩm… Lũ lụt một mặt tạo ra nguồn lợi thuỷ sản và bồi đắp phù sa hàng năm cho vùng đồng bằng để phát triển sản xuất cây công, nông nghiệp, nhưng mặt khác cũng làm thiệt hại các công trình thuỷ lợi phục vụ cho việc nuôi cá tra xuất khẩu, gây thiệt hại cho người nuôi.
Lũ lụt còn là nguyên nhân gây ô nhiễm 17 môi trường và phát tán dịch bệnh làm giảm hiệu quả sản xuất. Nhân tố lao động Lao động là yếu tố không thể thiếu trong mọi quá trình sản xuất và kinh doanh trong đó có sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu. Lao động trong sản xuất cá tra xuất khẩu đòi hỏi phải có kỹ thuật cao, am hiểu về quy luật sinh trưởng và phát triển của chúng. Ngược lại, việc nuôi cá tra một cách ồ ạt, thiếu hiểu biết tối thiểu về kỹ thuật nuôi sẽ làm huỷ hoại môi trường suy kiệt nguồn lợi thuỷ sản và có thể bị phá sản.
Trong chế biến cá tra xuất khẩu, lao động chủ yếu là nữ, đòi hỏi phải có sức khoẻ tốt có thể làm việc theo ca liên tục, phải có kỹ năng tương đối tinh xảo, khéo léo.