Chương 1: Khái quát về thực thi biện pháp kiểm soát biên giới đối với quyền sở hữu trí tuệ Chương 2: Những quy định pháp lý và tình hình thực thi các biện pháp kiểm soát biên giới đối với quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực hải quan hiện nay ở Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thực thi biện pháp kiểm soát biên giới đối với quyền sở hữu trí tuệ của Hải quan Việt Nam. KHÁI QUÁT VỀ THỰC THI BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT BIÊN GIỚI ĐỐI VỚI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1. Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 1. Quyền sở hữu trí tuệ Trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định.
Quyền SHTT bao gồm các quyền sở hữu đối với sản phẩm của hoạt động trí tuệ và tinh thần như: các tác phẩm văn học nghệ thuật, tác phẩm khoa học, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và giống cây trồng[49]. Nói cách khác, quyền SHTT chính là các quyền sở hữu của chủ thể quyền đối với tài sản trí tuệ. Pháp luật dân sự Việt Nam định nghĩa về quyền sở hữu như sau: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Là một loại tài sản, chủ sở hữu tài sản trí tuệ hoàn toàn có quyền sử dụng và định đoạt tài sản trí tuệ của mình theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, với việc là một tài sản vô hình, việc chiếm hữu tài sản trí tuệ không có nhiều ý nghĩa bởi chủ thể quyền không thể cầm nắm được, hay tự mình ngăn cản người khác không được sử dụng trái phép tài sản trí tuệ. Chính vì vậy việc thực hiện quyền sở hữu của chủ thể quyền phải thông qua các cơ quan Nhà nước bằng cách đăng ký bảo hộ quyền SHTT tại cơ quan có thẩm quyền. Đối với một số loại tài sản trí tuệ, quyền SHTT không mặc nhiên phát sinh mà nó phụ thuộc vào việc chủ sở hữu quyền đã đăng ký bảo hộ quyền SHTT hay chưa. Pháp luật sở hữu trí tuệ định nghĩa về quyền SHTT như sau: “Quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.” [37] Như vậy, khi nghiên cứu về quyền SHTT, ta cần nhìn nhận dưới ba góc độ sau: Thứ nhất, đối tượng của quyền SHTT là sản phẩm trí tuệ, được tạo ra trực tiếp bởi tư duy, sáng tạo của hoạt động trí óc của con người và được thể hiện dưới một hình thái vật chất nhất định.
10 Thứ hai, chủ thể của quyền SHTT có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc nhóm người đã sáng tạo ra hoặc được sở hữu tài sản trí tuệ. Thứ ba, quyền của chủ thể quyền SHTT phải là quyền được pháp luật thừa nhận, tức là bất cứ quyền nào mà tác giả, chủ sở hữu hoặc người sử dụng có được đối vởi sản phấm trí tuệ đều phải được pháp luật thừa nhận. Đặc điểm của quyền SHTT Về khía cạnh thời gian: thời điểm phát sinh, xác lập quyền SHTT và thời hạn mà quyền SHTT được bảo hộ phải được pháp luật thừa nhận và quy định. Tuỳ theo đối tượng tài sản trí tuệ, loại hình quyền SHTT, nội dung quyền SHTT mà thời điểm phát sinh, xác lập và thời hạn bảo vệ quyền sở hữu đối với các đối tượng tài sản trí tuệ khác nhau là khác nhau.
Ví dụ quyền tác giả đối với một tác phẩm văn học sẽ phát sinh ngay khi tác phẩm đó được sáng tạo và được thể hiện dưới một dạng hình thức vật chất nhất định mà không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký [36]. Tuy nhiên, đối với quyền sở hữu công nghiệp: các loại nhãn hiệu, tên thương mại… chỉ phát sinh và xác lập quyền SHTT khi được đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận [36]. Bên cạnh đó, pháp luật có đặt ra thời hạn bảo hộ, hết thời hạn này tài sản trí tuệ không còn được pháp luật bảo hộ nữa, tài sản đó sẽ trở thành tài sản chung của nhân loại, mọi người được tự do sử dụng mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu [36]. Ví dụ, theo quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể tại Điều 27 Luật SHTT 2005 thì tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng,… được bảo hộ 75 năm kể từ khi được công bố lần đầu tiên; đối với các tác phẩm chưa được công bố trong thời hạn 25 năm kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là 100 năm kể từ khi tác phẩm được định hình… Về khía cạnh không gian: quyền SHTT được bảo vệ trong một phạm vi không gian nhất định, có thể là trong lãnh thổ quốc gia hoặc là một khu vực, trong một mối quan hệ hợp tác song phương, đa phương hoặc trên phạm vi toàn cầu, tuỳ thuộc vào việc xác lập quyền SHTT đó.
Nếu một đối tượng tài sản trí tuệ được đăng ký bảo hộ 11 ở nước A, đối tượng đó sẽ được bảo hộ tuyệt đối ở nước A, không chủ thể nào có thể xâm phạm đến quyền SHTT của chủ thể quyền trong phạm vi lãnh thổ nước A. Tuy nhiên ở nước B thì lại khác, quyền SHTT của chủ thể quyền không được bảo hộ, trừ trường hợp nước B cùng tham gia một điều ước về bảo vệ quyền SHTT với nước A. Điều này rất phổ biến, ví dụ như việc các thương hiệu nổi tiếng như KFC, Starbuck, Adidas… bị xâm phạm tràn lan tại thị trường Trung Quốc dưới dạng các thương hiệu như OFC, EFC hay Buckstar, Starkbuck. Quyền sử dụng đóng vai trò quan trọng: tài sản trí tuệ khi mới được sáng tạo ra thì bản thân nó vẫn chưa định hình được giá trị mà phải qua quá trình sử dụng, ứng dụng vào thực tế mới xác định được, từ đó mới có định hướng phát triển và bảo hộ phù hợp.
Hơn nữa, tài sản trí tuệ là tài sản vô hình, việc chiếm hữu nó không có nhiều ý nghĩa. Nhạc sĩ sáng tác ra bản nhạc dù có lưu giữ bản gốc bài nhạc trong tay cũng không thể kiểm soát được việc người khác đang chơi bản nhạc đó ở nơi khác. Bảo hộ có chọn lọc: Không phải tài sản trí tuệ nào cũng được bảo hộ, dù đó đều là những sản phẩm trí tuệ của con người. Điều 15 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2019 có quy định về những trường hợp tài sản trí tuệ không được bảo hộ.
Theo đó, tin tức thời sự đưa tin thuần túy, văn bản hành chính, quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu… tuy có thể coi là tài sản trí tuệ nhưng không được pháp luật bảo vệ. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Hiện nay các hành vi xâm phạm quyền SHTT xảy ra rất phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở khắp nơi trên thế giới. Việc sao chép, sử dụng trái ý muốn của chủ sở hữu quyền là rất dễ dàng, và lợi ích của việc sử dụng trái phép tài sản trí tuệ là rất lớn nên nhiều tổ chức, cá nhân vẫn bất chấp để thực hiện các hành vi xâm phạm quyền SHTT. Điều này đặt ra thách thức lớn cho các cơ quan, đơn vị trong công tác đấu tranh phòng chống hành vi xâm phạm.
Khi xác định được hành vi xâm phạm quyền SHTT, pháp luật Việt Nam có quy định về chế tài, các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm để đảm bảo bảo vệ quyền cho chủ sở hữu, đồng thời răn đe các hành vi vi phạm. Các biện pháp được áp dụng theo pháp luật hiện hành bao gồm: biện pháp tự bảo vệ, biện pháp hành chính, biện pháp dân sự, và biện pháp hình sự. 12 Biện pháp tự bảo vệ: Chủ thể quyền có thể tự mình bảo vệ khỏi các hành vi xâm phạm bằng cách: áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm; yêu cầu các tổ chức cá nhân có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm; hoặc khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Biện pháp hành chính Biện pháp hành chính cũng được áp dụng đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT.
Theo đó, tổ chức, cá nhân có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền như một hình thức xử phạt chính; và bên cạnh đó, tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm, cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn có thể áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung bao gồm: - Tịch thu hàng hóa giả mạo về SHTT, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về SHTT; - Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm. Ngoài ra, còn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả gồm: - Buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa giả mạo về SHTT, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về SHTT với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể SHTT; - Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hóa quá cảnh xâm phạm quyền SHTT hoặc buộc tái xuất đối với hàng hóa giả mạo về SHTT, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về SHTT sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hóa.