Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank Hải Phòng giai đoạn 2012-2015. Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank Hải Phòng giai đoạn 2016-2019. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại 1.Rủi ro của Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm Rủi ro là vấn đề không được mong đợi trong tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Rủi ro có thể được hiểu một cách khái quát đó là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước, khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế khác kết quả kỳ vọng theo kế hoạch. Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe dọa sự sống còn của DN, tuy nhiên muốn có lợi nhuận thì phải chấp nhận nó.
Vì vậy, để tồn tại và phát triển, để đứng vững trong cạnh tranh các DN phải đương đầu với rủi ro có thể xảy ra bằng cách tiên liệu phán đoán các rủi ro có thể xảy ra để tìm biện pháp phòng ngừa, hạn chế giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra. Các loại rủi ro chủ yếu trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Có rất nhiều cách phân loại rủi ro, tuy nhiên trong phạm vi hoạt động của NHTM Việt Nam có thể tổng hợp thành một số loại rủi ro cơ bản như sau: RRTD: Rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một NH, bao gồm cả việc thanh toán nợ cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Rủi ro lãi suất: thể hiện rủi ro tiềm tàng của một NH do biến động của lãi suất. Rủi ro lãi suất có thể có một số hình thức khác nhau như rủi ro xác định lại lãi suất, rủi ro do đường cong lãi suất thay đổi, rủi ro do tương quan lãi suất, và rủi ro quyền chọn đi kèm.
Rủi ro thanh khoản: phát sinh chủ yếu từ xu hướng của các NH là huy 4 động ngắn hạn và cho vay dài hạn. Rủi ro giá cả: đây là rủi ro về việc giá trị các tài sản của một NH có thể biến động. Rủi ro này xuất hiện trong tất cả các chủng loại tài sản, từ bất động sản đến cổ phiếu và trái phiếu. Rủi ro ngoại hối: phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại tiền tệ của các khoản ngoại hối nắm giữ, và vì thế làm cho NH có thể gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động.
Rủi ro hoạt động: bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức mà một NH điều hành các hoạt động của mình. Ví dụ như: việc cấu trúc hạn mức không phù hợp trong lĩnh vực kinh doanh nguồn vốn, quản trị kém các quy trình quản lý tín dụng, cán bộ tham ô, thiếu các kế hoạch khôi phục kinh doanh trong trường hợp xảy ra thảm họa. Rủi ro pháp lý: thường tác động đến các NH theo hai cách: Thứ nhất, các khách hàng và những người khác vì lý do đồn đại nào đó về chính sách có thể khởi kiện NH. Thứ hai, khi các thu xếp pháp lý của một NH, ví dụ: các hợp đồng cho vay và tài sản đảm bảo tiêu chuẩn của NH đó không được đáp ứng, hoặc nhà nước thay đổi đột ngột chính sách vĩ mô về cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu tiên.
Rủi ro chiến lược: phát sinh từ các thay đổi trong môi trường hoạt động của NH trên phạm vi rộng hơn về mặt kinh doanh tài chính. Rủi ro chiến lược cũng có thể phát sinh từ các hoạt động của bản thân NH. Ví dụ: việc xâm nhập vào môi trường mới mà thiếu sự nghiên cứu đầy đủ và thiếu các nguồn lực cần thiết để khai thác thị trường này. Rủi ro uy tín: là rủi ro dư luận đánh giá xấu về NH, gây khó khăn nghiêm trọng cho NH trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc khách hàng rời bỏ NH.
5 Ngoài các rủi ro trên đây, các nhà quản trị NH còn quan tâm đến một số rủi ro khác như: Rủi ro lạm phát, rủi ro thị trường, rủi ro quốc gia và các rủi ro khác. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại RRTD là một trong những loại rủi ro phổ biến nhất trong hoạt động NHTM. RRTD cũng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề nhất đối với hoạt động của NH vì các khoản cho vay thường chiếm quá 50% giá trị tổng tài sản và tạo ra nguồn thu chủ yếu của NH. Hoạt động tín dụng tạo ra phần lớn nguồn thu cho NH song cũng tiềm ẩn rủi ro có thể gây ra những thiệt hại nặng nề thậm chí dẫn đến phá sản NH.
RRTD là rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất. Nó đòi hỏi NH phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro, giảm tối thiểu những thiệt hại có thể xảy ra. Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NH Nhà nước, RRTD trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng: là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, NH không dự kiến là khoản vay đó sẽ có thể bị tổn thất.
Tuy nhiên cũng như những loại hình đầu tư khác, những khoản tín dụng đó luôn hàm chứa rủi ro. Do đó RRTD còn được hiểu là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho NH do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi dẫn đến làm giảm khả năng thanh toán, giảm hiệu quả kinh doanh, gây thất thoát vốn và có thể làm cho NH lâm vào tình trạng phá sản. Về mặt định lượng: RRTD được phản ánh bởi chính số lượng nợ quá 6 hạn, nợ đọng của mỗi Tổ chức tín dụng. Về mặt định tính: RRTD có quan hệ ngược chiều với chất lượng tín dụng.
Theo đó chất lượng tín dụng càng cao thì mức độ rủi ro càng thấp và ngược lại, chất lượng tín dụng thấp, nợ quá hạn cao thì RRTD là rất lớn và có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh NH. · Các loại rủi ro tín dụng: + Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn (rủi ro đọng vốn): Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, NH và khách hàng phải quy ước về khoảng thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên đến thời hạn mà NH vẫn chưa thu hồi được vốn vay, những tổn thất xảy ra trong trường hợp này người ta gọi đó là rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn. + Rủi ro do không có khả năng trả nợ: là rủi ro xảy ra trong trường hợp DN đi vay đã mất khả năng chi trả.
Do vậy NH phải thanh lý tài sản của DN để thu nợ. Quản trị rủi to tín dụng của Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm Khi bắt đầu xem xét một khoản tín dụng, NH cần lường trước những rủi ro có thể xảy ra. Đây cũng chính là xuất phát điểm hình thành nên những ý tưởng quản trị RRTD của NHTM.
Mặc dù RRTD là một hiện tượng tiềm ẩn, nhưng do tính lặp lại của rủi ro nên có thể nhận biết được quy luật của nó, chính vì điều này mà NH có thể tìm ra những biện pháp quản lý nhằm hạn chế khả năng xảy ra RRTD và giảm thiểu nó một cách tối đa. Như vậy, quản trị RRTD là: việc tổ chức, điều khiển và thực hiện các hoạt động, các quy trình liên quan đến việc cấp tín dụng nhằm đảm bảo an toàn tín dụng, hạn chế RRTD nhằm giảm thiểu tổn thất cho NH. Quản trị RRTD bao gồm toàn bộ quá trình thẩm định đánh giá trước khi khoản vay được phê duyệt cùng với toàn bộ quá trình giám sát và báo cáo việc tuân thủ những cam kết tín dụng. Công tác quản lý này được thực hiện ngay từ khi 7 xem xét hồ sơ xin vay vốn, thẩm định khách hàng, ký kết hợp đồng tín dụng và việc thực hiện giải ngân và kiểm soát khi cho vay đến việc thu nợ và xử lý nợ xấu.
Quản trị RRTD có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NH vì RRTD mang tính gián tiếp, đa dạng, phức tạp, mang tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động kinh doanh của NH. Mặt khác, hiệu quả kinh doanh lại phụ thuộc vào mức độ rủi ro. Mức thu nhập ngày càng cao thì mức độ rủi ro tiềm ẩn sẽ ngày càng lớn và ngược lại, điều đó được đúc kết qua thực tế, nhưng cho tới nay vẫn chưa có lời giải nào chính xác cho bài toán đó. Vì vậy, các NHTM mong muốn đạt được kết quả kinh doanh cao với mức độ rủi ro có thể kiểm soát được, tuỳ từng thời kỳ mà mỗi NH sẽ đề ra những kế hoạch và chiến lược khác nhau để giải quyết được cả hai vấn đề luôn tồn tại song hành thu nhập và rủi ro.
Nội dung công tác quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại a, Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng Việc quản lý RRTD phải đạt được các mục tiêu sau: - Tạo lập được một danh mục tín dụng hợp lý, có khả năng sinh lời cao, ít rủi ro. - Tạo sự chủ động, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bộ phận tác nghiệp nhằm tìm kiếm các khoản vay có khả năng sinh lời cao và ít rủi ro. - Có những quy định để thực hiện thống nhất, minh bạch các bước công việc trong quá trình cho vay; có các quy định hợp lý về cơ cấu, tỷ lệ. - Đảm bảo phản ánh minh bạch, chính xác chất lượng danh mục tín dụng, trích đủ dự phòng để bù đắp những rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay.
- Có hệ thống kiểm tra, kiểm soát thích hợp để phát hiện, ngăn ngừa và 8 xử lý kịp thời các rủi ro phát sinh đối với danh mục tín dụng. b, Nguyên tắc Quản trị rủi ro tín dụng Hiệp định Basel II (Hiệp định vốn NH quốc tế) ra đời thay thế cho hiệp định Basel I được thực hiện từ năm 1988 do uỷ ban giám sát NH Basel xây dựng nhằm hỗ trợ các NH quản lý rủi ro hiệu quả hơn.