CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VÀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Tổng quan về doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm về doanh nghiệp Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác. Sự phát triển của doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của các phương thức sản xuất.
Do đó, hiểu về doanh nghiệp một cách sâu sắc là cơ sở để nghiên cứu cấu trúc vốn một cách toàn diện hơn. Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán. Theo Luật Công ty Việt Nam ban hành năm 1999, doanh nghiệp là các đơn vị kinh doanh được thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh, đó là việc thực hiện một hay một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hay thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Điều 4 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 26/11/2014 quy định: "Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Khái niệm về doanh nghiệp ngoài quốc doanh Hiện nay, Việt Nam bao gồm các thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, nếu chia theo hình thức sở hữu thì nền kinh tế Việt Nam bao gồm 2 loại hình doanh nghiệp chính: doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. 4 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: bao gồm toàn bộ những đơn vị kinh tế mang hình thức sở hữu phi Nhà nước về tư liệu sản xuất, những đơn vị kinh té này dựa trên cơ sở do tư nhân (bao gồm một hoặc một tập thể các cá nhân) bỏ vốn đầu tư dưới mọi hình thức, nhằm mục đích chủ yếu là lợi nhuận và chịu sự chi phối của các chủ đầu tư. Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế này rất đa dạng, và tạo ra các thành phần kinh tế khác nhau.
Các doanh nghiệp này hoạt động dựa trên số vốn của mình và tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở lãi hưởng lỗ chịu. Các DN NQD được pháp luật quy định rất chặt chẽ đối với mọi hoạt động vì đây là khu vực kinh tế phức tạp và liên quan đến nhiều vấn đề xã hội. Đặc điểm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Qua khái niệm có thể nhận diện một số đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh như sau: + Một là đặc điểm về sở hữu: Đây là đặc điểm khác biệt nhất. Phần lớn vốn, tài sản, lợi nhuận của các doanh nghiệp Ngoài quốc doanh thuộc sở hữu tư nhân.
Chủ doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu cơ sở SXKD chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động SXKD và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quy định của cơ quan Nhà nước hoặc từ cơ quan quản lý. + Hai là đặc điểm về trình độ văn hoá, trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ: Một bộ phận những người chủ của các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh có trình độ văn hoá chưa cao, chưa được đào tạo chính quy về các nghiệp vụ quản lý, trình độ chuyên môn chủ yếu là tự học hoặc theo kinh nghiệm. Vì vậy, nhìn chung hiệu quả SXKD của một số doanh nghiệp Ngoài quốc doanh còn thấp. Các Doanh nghiệp chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch ” vụ có mục đích chính là mua đi, bán lại để kiếm chênh lệch giá; + Ba là đặc điểm về ý thức tuân thủ pháp luật: 5 Một bộ phận chủ doanh nghiệp Ngoài quốc doanh có trình độ nhận thức cao tìm cách lách luật, trốn thuế, không thực hiện nghĩa vụ thuế.
Phần lớn các chủ doanh nghiệp Ngoài quốc doanh có trình độ nhận thức về pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng là không cao, nhiều cơ sở kinh doanh không lập và giữ sổ sách kế toán theo đúng quy định của pháp luật. + Bốn là đặc điểm về số lượng đối tượng: Số lượng các cơ sở kinh doanh rất lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh ở hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản xuất, gia công, chế biến, xây dựng, vận tải. đến các loại hình thương nghiệp, dịch vụ và trải rộng trên khắp các địa bàn trong cả nước. Vai trò của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đối với phát triển kinh tế xã hội Doanh nghiệp NQD là hình thức doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, trừ khối hợp tác xã; toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ lao động doanh nghiệp hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý.
Thực hiện đường lối đổi mới: kinh tế khu vực ngoài quốc doanh nói chung, nhất là khu vực doanh nghiệp NQD đã phát triển vượt bậc. Thực tiễn đã khẳng định các đóng góp của khu vực này trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Cùng với sự tăng về số lượng và các ngành nghề kinh doanh phong phú đa dạng của các doanh nghiệp NQD như: thương nghiệp, dịch vụ, sản xuất… đã đem lại số thu cho ngân sách nhà nước hàng năm ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. Sự phát triển của khu vực doanh nghiệp NQD đã mở mang ra nhiều ngành nghề, thúc đẩy lưu thông hàng hóa.
Đã xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất, 6 kinh doanh hoạt động hiệu quả, tạo được chỗ đứng trên thị trường. Sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, được người tiêu dùng trong nước và ngoài nước ưa chuộng. Một số DN đã tạo thêm mặt hàng mới, thị trường mới, sản phẩm đã có sức cạnh tranh. Mặt khác doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn có vai trò lớn trong việc ổn định nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Công tác kiểm tra thuế đối với đơn vị doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm về thuế Thuế luôn gắn liền với sự tồn tại, phát triển của quốc gia và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. QLT là một trong những hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu đặt ra cho thuế trên cơ sở tổ chức bộ máy QLT theo mô hình quản lý phù hợp từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội. Quản lý thuế được thực hiện bằng các quy trình nghiệp vụ cụ thể theo các nguyên tắc nhất định trên cơ sở thông tin có chất lượng thu được từ hệ thống bảo đảm thông tin quản lý thuế nhằm phát huy hiệu lực và hiệu quả.
Do vậy sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của quốc gia. Về kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ lĩnh vực tư sang lĩnh vực công; Về phân phối thu nhập, thuế là hình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân; Về người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc đối với người có hoạt động sản xuất kinh doanh, người có thu nhập; Vậy: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không 7 mang tính chất hoàn trả trực tiếp, mà nhằm sử dụng cho mục đích phúc lợi chung toàn xã hội. Khái niệm về kiểm tra thuế Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính, “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá” - Kiểm tra thuế là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý thuế, là một hoạt động có mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. - Chủ thể kiểm tra thuế là cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, thường là cơ quan thuế, và các cơ quan kiểm toán nhà nước, cơ quan thanh tra.
- Đối tượng kiểm tra thuế là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Ngân sách Nhà nước và các đơn vị trong nội bộ ngành thuế. - Nội dung kiểm tra thuế là việc chấp hành pháp luật thuế hiện hành. - Về phương pháp kiểm tra thuế là phải xem hoạt động thực tế của đối tượng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng một cách chính xác, khách quan, làm rõ đúng sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, hướng dẫn, và xử lý vi phạm. - Hoạt động kiểm tra thuế không chỉ được thực hiện ở một thời giai trong hoạt động quản lý thuế mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quản lý thuế.
Nội dung công tác kiểm tra thuế đơn vị doanh nghiệp ngoài quốc doanh * Kiểm tra đăng ký thuế 8 Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế là quyền và nghĩa vụ của đối tượng kinh doanh. Thông qua việc đăng ký, Nhà nước quản lý được mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở ngay từ khi bắt đầu hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hoá nguồn thu ngân sách.