Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn và công tác công tác huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại; 4 Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương giai đoạn 2013 - 2017; Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương giai đoạn 2018 - 2022. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về NHTM 1. Khái niệm về NHTM Để đưa ra được định nghĩa về Ngân hàng thương mại (NHTM), người ta phải dựa vào tính chất mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính đôi khi còn xem xét thêm cả đối tượng hoạt động.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) tại Việt Nam năm 1997: “Ngân hàng là TCTD thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”, trong đó “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, chủ yếu là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán”. “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước”. Phân loại Ngân hàng thương mại a. Dựa vào hình thức sở hữu - Ngân hàng sở hữu tư nhân: là Ngân hàng do cá nhân thành lập bằng vốn của chính họ.
Tại Việt Nam chưa có loại hình này. - Ngân hàng sở hữu nhà nước: là Ngân hàng mà vốn sở hữu do Nhà nước cấp. - Ngân hàng cổ phần: là loại Ngân hàng được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế xã hội và các cá nhân cùng góp vốn kinh doanh. - Ngân hàng liên doanh: là Ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của hai hay nhiều bên.
Ở Việt Nam, loại hình này thường được thực hiện giữa Ngân hàng trong nước với Ngân hàng nước ngoài để tận dụng các ưu thế của nhau. Dựa vào chiến lược kinh doanh - Ngân hàng bán buôn: là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng tập đoàn, công ty chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân. - Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là loại Ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách hàng công ty và khách hàng cá nhân. Hầu hết các Ngân hàng thương mại Việt Nam đều thuộc loại ngân hàng này.
Cơ sở lý luận về vốn và công tác huy động vốn tại NHTM 1. Khái niệm về vốn tại NHTM Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Vai trò của huy động vốn Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải có vốn bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặc biệt là “tiền tệ” với đặc thù hoạt động kinh doanh là “đi vay để cho vay” nên nguồn vốn lại càng nắm giữ vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng. Ngoài vốn ban đầu cần thiết tức là đủ vốn điều lệ theo luật định thì để tiếp tục hoạt động kinh doanh, việc đầu tiên ngân hàng phải làm là huy động vốn, thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình. Vốn huy động cho phép ngân hàng dùng để kinh doanh cho vay, đầu tư… để thu lại lợi nhuận. Nguồn vốn mà ngân hàng huy động được quyết định khả năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng, đầu tư của chính nó.
Nguồn vốn huy động được nhiều thì ngân hàng có đủ điều kiện để mở rộng thị trường tín dụng và các dịch vụ ngân hàng để mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng. Với chức năng tập trung và phân phối các nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế, một nguồn vốn huy động dồi dào sẽ tạo cho ngân hàng điểu kiện để mở 7 rộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, không bỏ lỡ cơ hội đầu tư, giảm thiểu rủi ro đặc biệt là rủi ro về thanh khoản, tạo dựng được uy tín cho ngân hàng. Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động còn quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất hợp lý cho khách hàng.
Nhờ đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Vốn lớn cũng giúp ngân hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa dạng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở rộng các hình thức đầu tư, kinh doanh các dịch vụ tài chính khác nhằm phân tán rủi ro và tạo thêm nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Vốn huy động nắm giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chính vì vậy, các ngân hàng luôn tìm cách đưa ra những chính sách phù hợp nhất để thu hút được vốn huy động trong nền kinh tế; bên cạnh đó là việc sử dụng nguồn vốn đó một cách thực sự hiệu quả, mang lại nhiều lợi nhuận nhất.
Các nhà quản trị ngân hàng luôn tìm cách để đổi mới, hoàn thiện những chính sách của mình sao cho phù hợp với tình hình chung của nền kinh tế, đây là điều kiện tiên quyết để đưa ngân hàng đến thành công. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại 1. Tiền gửi của khách hàng Để huy động vốn, các ngân hàng đã cung cấp rất nhiều loại hình tiền gửi khác nhau. Mỗi công cụ huy động đều có những đặc điểm riêng phù hợp với nhu cầu của từng khách hàng với mục đích là tiết kiệm hay thanh toán.
Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn tiền gửi của NHTM bao gồm tiền gửi của tổ chức kinh tế, tiền gửi của dân cư và tiền gửi khác. 8 * Tiền gửi của tổ chức kinh tế: - Tiền gửi không kỳ hạn Đây là khoản tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu đó, thực chất đó là khoản tiền gửi dùng để đảm bảo trong thanh toán. Tiền gửi đảm bảo thanh toán được ký ủy thác vào ngân hàng để thực hiện các khoản chi trả phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng một cách thuận tiện và tiết kiệm. Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi chờ thanh toán mà không phải để dành.
Bởi vậy đối với khách hàng đây là một tài sản mà họ ký ủy thác, ủy nhiệm cho ngân hàng bảo quản và thực hiện các nghiệp vụ liên quan theo yêu cầu của họ. Đây là nguồn vốn mà việc gửi và rút tiền có thể thực hiện vào bất kỳ lúc nào, ngân hàng khó xác định trước, nhưng trên thực tế luôn có sự chênh lệch về thời gian và số lượng giữa việc gửi và rút tiền, cho nên tại mỗi ngân hàng luôn tồn tại một số dự tiền gửi không kỳ hạn mà ngân hàng có thể sử dụng để cho vay. Lãi suất của loại tiền gửi này rất thấp, thậm chí có những khoản tiền gửi ngân hàng không phải trả lãi. Cho nên nguồn vốn này giúp cho ngân hàng hạ thấp giá mua vốn, nâng cao khả năng tài chính trong cho vay và đầu tư.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời hạn rút tiền. Về nguyên tắc, người gửi chỉ có thể rút tiền theo thời hạn đã thỏa thuận, nhưng trên thực tế để thu hút loại tiền gửi này với kỳ hạn dài, các ngân hàng thường cho phép rút tiền trước hạn nhưng khi đó khách hàng chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn hoặc hưởng mức lãi suất tương ứng theo loại kỳ hạn nhất định do ngân hàng quy định. Nguồn vốn này có độ ổn định cao, giúp ngân hàng chủ động trong quá trình sử dụng. * Tiền gửi của dân cư: Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của tầng lớp dân cư trong xã hội gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm lời và 9 thanh toán.
Tiền gửi của dân cư bao gồm: tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán. - Tiền gửi tiết kiệm bao gồm: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: + Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Loại tiền gửi này người gửi tiền có thể rút ra một phần hoặc toàn bộ số tiền gửi bất cứ lúc nào. Nhưng khác với tiền gửi thanh toán, người gửi tiền không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác, lãi suất tiền gửi tiết kiệm thường cao hơn so với tiền gửi thanh toán. Phần lớn những người gửi tiền tiết kiệm loại này là do chưa xác định được nhu cầu chi tiêu cụ thể trong tương lai nhưng mong muốn hưởng mức lãi suất nhất định trong thời gian khoản tiền nhàn rỗi.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là hình thức huy động truyền thống của ngân hàng. Khách hàng gửi tiền trên cơ sở thỏa thuận với ngân hàng về thời gian gửi, lãi suất theo quy định và khách hàng chỉ được rút tiền ra khi đến hạn. Tuy nhiên trên thực tế để khuyến khích người gửi tiền với kỳ hạn dài, các NHTM vẫn cho khách hàng rút ra trước hạn và được hưởng lãi suất thấp hơn so với lãi suất đã thỏa thuận ban đầu (thông thường bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn). Với loại tiền gửi này, người gửi tiền được ngân hàng giao cho một sổ tiết kiệm, trong thời gian gửi tiền, sổ tiết kiệm này có thể dùng làm vật cầm cố hoặc được chiết khấu để vay vốn.
Do nguồn vốn huy động từ loại tiền gửi này mang tính ổn định, nên các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau nhằm thu được nhiều nguồn vốn với lãi suất của các kỳ hạn khác nhau. Thông thường, kỳ hạn càng dài thì lãi suất huy động càng cao.