CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên Thế giới Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển nhân loại và được mọi giai cấp, mọi xã hội và thời đại quan tâm. Giáo dục đạo đức cho con người là vấn đề đã được đặt ra từ xa xưa và luôn được đổi mới để thích ứng với thực tiễn của thời đại.
Usinxki (1824 - 1870), người thầy giáo là người giữ gìn, truyền đạt di huấn thiêng liêng của các bậc tiền bối đã đấu tranh cho chân lý và hạnh phúc. "Dạy học là một nghề vinh quang nhưng phải thường xuyên bồi dưỡng để tiến kịp với thời đại". [1] Nhiều tác giả như A. Bađeladge và M.
Calinin cũng đánh giá cao về vai trò của các phẩm chất đạo đức trong nhân cách sư phạm, thậm chí còn quan trọng hơn cả năng lực nghề nghiệp. Nhìn chung các tác giả đều thừa nhận người giáo viên chỉ được xem là "toàn diện" khi và chỉ khi hội hội tụ đủ các phẩm chất đạo đức trong sáng. Các phẩm chất đó tác động trực tiếp đến tâm tư, tình cảm của học sinh. Có thể nói, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục là những tiền đề quan trọng, là cơ sở lý luận để tham khảo, xây dựng khái niệm đạo đức nghề nghiệp cũng như việc đề xuất các biện pháp GDĐĐNN cho SV sư phạm nói chung và SV sư phạm Mầm non nói riêng.
Ở Việt Nam Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm, tư tưởng triết lý giáo dục hết sức vĩ đại và sâu sắc nhưng cũng rất cụ thể và gần gũi với mọi đối tượng. Trong đó phải kể đến những lời dạy của Người đối với công tác giáo dục - đào tạo nói chung, trong đó có giáo dục đạo đức nhân cách cho những người thầy, cô giáo nói riêng. Theo Bác, người thầy giáo trước hết phải là một công dân mẫu mực, phải mang trong mình đạo đức cách mạng. 6 Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề giáo dục đạo đức, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức.
Có thể kể đến một số công trình sau: - Trong công trình nghiên cứu của mình, hai tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng đã chỉ ra một số phẩm chất cao quý của người thầy giáo, "thầy giáo là người giàu lòng nhân ái, sống mẫu mực, đạo đức trong sáng, không tham công danh, phú quý. Có thể nói, cái tâm, cái trí của thầy giáo là tấm gương sáng của con người trong các thời kỳ lịch sử" [8]. Những phẩm chất đạo đức mà người giáo viên cần phải có đã được khẳng định trong Luật giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2019. Luật Giáo dục ghi rõ: "Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây: Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt, đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ, đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp, lý lịch bản thân rõ ràng" [21].
Trên cơ sở những tiêu chuẩn đó, nhà giáo phải có các tiêu chuẩn sau: "Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý, chương trình giáo dục" cụ thể là: Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; giữ gìn uy tín, phẩm chất, danh dự của nhà giáo, tôn trọng nhân cách người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ quyền lợi, lợi ích chính đáng của người học, không ngừng học tập, rèn luyện đề cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nêu cao gương tốt cho người học… Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thu Thủy: “Đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay”, năm 2019 cũng đã bàn rất sâu về vấn đề đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non hiện nay. Tóm lại, đã có rất nhiều công trình khoa hoa học trong nước và ở nước ngoài đã đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức và GDĐĐNN. Tuy nhiên, việc nghiên cứu GDĐĐNN cho SV một ngành nghề cụ thể như SV chuyên ngành giáo dục mầm non còn rất hạn chế. Đối tượng mà chúng tôi muốn hướng tới là SV chuyên ngành sư phạm mầm non của trường CĐSP Hòa Bình.
SV ở một tỉnh miền núi có nhiều điểm khác biệt so với các địa phương khác. Do đó, đây là một đề tài nghiên cứu có tính thiết thực và có giá trị thực tiễn nhằm phục vụ cho sự nghiệp 7 giáo dục và đạo tạo của tỉnh Hòa Bình nói riêng, khu vực miền núi Tây Bắc nói chung. Các khái niệm cơ bản 1. Đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện sớm trong quá trình vận động, phát triển của xã hội, gắn liền với biến đổi của nền kinh tế xã hội.
Từ khi xã hội hình thành, phạm trù về đạo đức đã được phản ánh một cách sinh động trong đời sống xã hội thông qua mối quan hệ biện chứng giữa con người với con người, giữa con người với xã hội. Đạo đức luôn là một trong những phương thức hữu hiệu điều chỉnh hành vi của con người, góp phần quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội trong các chế độ xã hội. Có nhiều quan niệm, cách nhìn nhận, đề cập tới đạo đức ở những khía cạnh, nội dung và phạm vi khác nhau: - Các Mác cho rằng: "Đạo đức chính là lực lượng bản chất của con người trong sự phát triển của nó theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực của cái thiện" Theo C. Mác, bất luận trong mối quan hệ xã hội nào thì đạo đức cũng là quan hệ thực sự người, là sự phản ánh tồn tại xã hội, cho nên mỗi hình thái kinh tế - xã hội hay mỗi giai đoạn lịch sử đều định hình những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương ứng.
- Theo từ điển Tiếng Việt: "Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc, quy định hành vi của con người đối với nhau và đối với xã hội. Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những chuẩn mực đạo đức của một giai cấp nhất định" [22]. Như vậy, dù tiếp cận theo góc độ nào thì cần hiểu: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống những quy tắc, những chuẩn mực do xã hội đề ra, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp giữa lợi ích chung và riêng đem lại hạnh phúc cho cá nhân và sự tiến bộ xã hội. Đạo đức thể hiện ở hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội.
Thể hiện ở các quan niệm về thiện và ác, lòng nhân ái, lương tâm, lòng tự trọng, nghĩa vụ, danh dự, lẽ công bằng… Căn cứ vào các chuẩn mực đó, con người đánh giá hành vi 8 của người khác và của chính mình. Các chuẩn mực đạo đức có thể không được ghi thành văn bản pháp quy nhưng chúng vẫn được mọi người thực hiện do sự thôi thúc của lương tâm cá nhân và dư luận xã hội. Xét đến cùng, đạo đức thuộc về ý thức con người, nó được biểu hiện ở nhận thức, động cơ hành động và sự tự đánh giá. Nhờ đó mỗi cá nhân tự kiểm soát, tự điều chỉnh hành động và ứng xử trong cuộc sống phù hợp với chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức xã hội.
Đạo đức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức xã hội. Đạo đức nghề nghiệp là tên gọi khoa học về cách sử dụng nghề nghiệp của con người. Đạo đức nghề nghiệp là một hệ thống chuẩn mực đạo đức của một lĩnh vực lao động, sản xuất, hoạt động xã hội. Nó phản ánh những phẩm chất mà con người cần có khi hoạt động trong một ngành, một nghề cụ thể, quy định và điều chỉnh hành vi ứng xử, thái độ của con người trong lao động, với đối tượng lao động, với sản phẩm và vị trí của nghề nghiệp trong sự phát triển của xã hội.
Đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi người lao động phải tự giác thực hiện, giúp họ hoàn thành nhiệm vụ của mình với kết quả cao nhất. Như vậy, đạo đức nghề nghiệp là hệ thống những yêu cầu đạo đức đặc biệt, có liên quan đến việc tiến hành một hoạt động nghề nghiệp nào đó. Mỗi loại hình nghề nghiệp luôn đặt cho người lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp đó những yêu cầu, quy tắc, chuẩn mực đòi hỏi họ phải tự giác thực hiện. Đạo đức nghề nghiệp luôn thể hiện qua hành vi nghề nghiệp và kết quả lao động.
Khi cá nhân không thực hiện những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp hoặc thực hiện không đúng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động nghề nghiệp. Cá nhân tuân theo các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng lao động, xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp trong lao động và trong sự phát triển chung của xã hội. Hoạt động nghề nghiệp là phương thức sống chủ yếu nhất của con người. Vì vậy, đạo đức nghề nghiệp chính là một phần quan trọng trong đạo đức xã hội.
Để sống, con người phải lao động và để lao động có kết quả tốt nhất, con người 9 phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp. Để tự giác tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, trước hết con người phải có nền tảng về đạo đức xã hội nói chung, tích cực, chủ động vận dụng chuẩn mực đạo đức vào mối quan hệ nghề nghiệp, nâng cao giá trị đạo đức và việc thực thiện và tuân thủ đạo đức sẽ gia tăng lợi ích kinh tế. Mỗi loại nghề nghiệp có những nguyên tắc, chuẩn mực đặc thù. Có bao nhiêu loại nghề nghiệp thì cũng có bấy nhiêu loại đạo đức nghề nghiệp tương ứng.
Phẩm chất đạo đức cá nhân trong xã hội đều có nét chung, nhưng đạo đức trong lĩnh vực nghề nghiệp có những đặc thù và yêu cầu riêng biệt. Ví dụ: Thầy thuốc phải có lòng trắc ẩn; Thầy giáo phải là người mô phạm; Nhà báo phải trung thực; Nhà chính trị phải có lòng nhân hậu đặc biệt với nhân dân. Đạo đức nghề nghiệp của nghề dạy học là một bộ phận quan trọng trong nhân cách của cá nhân hoạt động sư phạm. Nó là thước đo phẩm chất, phản ánh năng lực, tạo ra nội lực bên trong, điều chỉnh sự hoàn thiện nhân cách của người giáo viên.