CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MẠNG LƯỚI TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI 1. MẠNG LƯỚI CÁC TỔ CHỨC KH&CN VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Hoạt động KH&CN a) Khái niệm khoa học, công nghệ và hoạt động KH&CN Khoa học được hiểu là "hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy" (theo UNESCO). Hệ thống tri thức ở đây là hệ thống tri thức khoa học khác với tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích luỹ một cách ngẫu nhiên trong đời sống hàng ngày.
Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích luỹ có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học là loại hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định và được tiến hành dựa trên những phương pháp khoa học. Đây là khái niệm đã được thừa nhận ở phạm vi quốc tế. Khái niệm khoa học trong Luật KH&CN cũng có tính tương đồng với khái niệm này. Công nghệ là "hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin.
Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ" (theo ESCAP) [1], [2]. Công nghệ là thuật ngữ đang được sử dụng rộng rãi, nhưng có rất nhiều định nghĩa khác nhau tuỳ theo từng mục đích sử dụng. Định nghĩa về công nghệ theo ESCAP có tính bao quát các khía cạnh liên quan đến công nghệ. Công nghệ là hệ thống kiến thức, nhấn mạnh bản chất cốt lõi của công nghệ là kiến thức, khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ.
Công nghệ có khả năng chế biến các nguồn lực thành hàng hoá và dịch vụ, do đó phải đáp ứng được mục tiêu sử dụng và các yêu cầu về kinh tế để được áp dụng trong thực tế. Công nghệ là công cụ, phương tiện, nhấn mạnh đó là sản phẩm của con người và con người có thể làm chủ được nó. Công nghệ có thể là vật thể (thiết bị máy móc), hay còn được gọi là phần kỹ thuật (technoware); 10 z con người, phần con người (Humanware); ghi chép, phần thông tin (Inforware); và thiết chế tổ chức, hay phần tổ chức (Orgaware) [3]. Mục tiêu của công nghệ theo Nawaz sharif là sử dụng tối ưu các kỹ thuật để tác động vào các yếu tố môi trường vật chất, xã hội, văn hóa.
Khái niệm công nghệ cũng được quy định trong Luật KH&CN, Luật Chuyển giao công nghệ và nhiều giáo trình về quản lý công nghệ và chuyển giao công nghệ, tuy nhiên còn có sự khác nhau giữa các văn bản này. Cũng cần nhấn mạnh rằng, tùy thuộc vào mục tiêu mà người ta đưa ra và vận dụng các khái niệm về công nghệ. Ví dụ, để thuận lợi cho việc đàm phán chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, người ta vận dụng định nghĩa của Nawaz sharif với cấu trúc gồm 4 phần nói trên. Hoạt động KH&CN, theo UNESCO định nghĩa là "các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và kỹ thuật trong mọi lĩnh vực của khoa học và công nghệ, là các khoa học tự nhiên và công nghệ, các khoa học y dược và nông nghiệp, cũng như các khoa học xã hội và nhân văn" [4].
Hoạt động KH&CN theo nghĩa này gồm: Hoạt động nghiên cứu khoa học gồm có nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai (viết tắt tiếng Anh là R&D); Hoạt động chuyển giao tri thức công nghệ; Hoạt động phát triển công nghệ (phổ cập công nghệ sau khi đã làm chủ công nghệ trong sản xuất và nâng cấp công nghệ); Hoạt động dịch vụ KH&CN. Theo Luật KH&CN thì "Hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ". Quy định của Luật không làm rõ được bản chất của hoạt động KH&CN, vừa như rất chặt chi tiết, nhưng lại rất lỏng với một quy định chung chung về “các hoạt động khác”. Luận văn chọn cách tiếp cận theo UNESCO, với ý nghĩa không những chỉ ra các lĩnh vực hoạt động cụ thể mà còn thể hiện được đặc trưng bản chất của hoạt động KH&CN là tập trung và gắn chặt với việc sản xuất, phân 11 z bố và sử dụng các kiến thức khoa học và kỹ thuật [5].
Với quan điểm này, khái niệm hoạt động triển khai bao gồm cả sản xuất thử các vật mẫu. b) Khái niệm và đặc trưng của hoạt động NC&TK Khái niệm NC&TK (hoặc R&D) được định nghĩa theo UNESCO và OECD là "các hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hoá, xã hội, và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới" [7, 8]. Định nghĩa trên cho thấy các yếu tố đặc trưng cơ bản của hoạt động NC&TK là: Yếu tố sáng tạo; Tính mới hoặc đổi mới (novelty or innovation); Sự sử dụng phương pháp khoa học; Sự sản sinh ra kiến thức mới. Trong đó hai yếu tố có tính quyết định để nhận dạng NC&TK là yếu tố sáng tạo và tính mới hoặc đổi mới.
c) Các loại hình hoạt động NC&TK Hoạt động NC&TK bao gồm NCCB, NCƯD và Triển khai. Đây là cách phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu khoa học [6]. Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật với sự vật khác. Sản phẩm của NCCB có thể là các phát hiện, phát minh dẫn đến hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học.
NCCB bao gồm: NCCB thuần tuý (chưa đề cập đến ý nghĩa ứng dụng) và NCCB định hướng (có dự kiến trước mục đích ứng dụng). NCCB định hướng gồm: Nghiên cứu nền tảng (về quy luật tổng thể) và nghiên cứu chuyên đề (về một hiện tượng đặc biệt của sự vật). Nghiên cứu ứng dụng: là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ NCCB để giải thích một sự vật; tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống, có thể là giải pháp về công nghệ, về vật liệu, hoặc về tổ chức và quản lý. Một số kết quả của NCƯD có thể là sáng chế.
Tuy nhiên kết quả của NCƯD phải qua giai đoạn triển khai mới có thể đưa vào sử dụng được. 12 z Triển khai (hoặc Triển khai thực nghiệm): là sự vận dụng các quy luật thu được từ NCCB và các nguyên lý thu được từ NCƯD, để đưa ra các hình mẫu và quy trình sản xuất với những tham số khả thi về kỹ thuật. Sản phẩm của triển khai chỉ mới là những hình mẫu khả thi kỹ thuật. Để áp dụng được còn phải tiến hành những tính khả thi khác, như khả thi về tài chính, kinh tế, môi trường, xã hội.
Hoạt động triển khai gồm có các giai đoạn: + Tạo vật mẫu (Prototype): nhằm tạo ra một sản phẩm mẫu, chưa quan tâm đến quy trình sản xuất và quy mô áp dụng. Việc tạo sản phẩm mẫu thường thực hiện trong các phòng thí nghiệm, labô công nghệ. + Tạo quy trình sản xuất (hoặc QTCN): nhằm xây dựng quy trình sản xuất sản phẩm mẫu. Hoạt động này thường được tiến hành trong các xưởng thực nghiệm thuộc viện, xí nghiệp sản xuất, nhà kính (nghiên cứu nông nghiệp).
+ Sản xuất thử (sản xuất loạt số 0): giai đoạn thử nghiệm cuối cùng nhằm khẳng định khả năng thực thi quy trình chế tạo và áp dụng trong sản xuất. So sánh với Luật KH&CN, cách phân loại nêu trên có điểm khác nhau về thuật ngữ được sử dụng. Trong Luật KH&CN không sử dụng "triển khai" mà là "phát triển công nghệ", để chỉ các hoạt động làm thực nghiệm, sản xuất thử… Trong Luận văn sử dụng thống nhất khái niệm "triển khai" vì thuật ngữ này có nội hàm phù hợp hơn để chỉ một giai đoạn của hoạt động nghiên cứu khoa học, là loại hình hoạt động có đặc trưng riêng và có chính sách tài chính riêng khác với các hoạt động phát triển khác [6]. Năng lực NC&TK a) Khái niệm năng lực NC&TK Năng lực NC&TK (hay năng lực R&D) là năng lực để tiến hành các hoạt động NC&TK nhằm tạo ra và ứng dụng các kết quả NC&TK vào thực tiễn.
Năng lực NC&TK thể hiện qua các yếu tố nguồn lực đầu vào của hoạt động NC&TK, chính là nguồn lực tạo nên sức mạnh của hoạt động NC&TK và đảm bảo sự thực thi các ý tưởng nghiên cứu [6]. Năng lực ứng dụng kết quả NC&TK cũng bao gồm các yếu tố nguồn lực đầu vào để có thể áp dụng các kết quả NC&TK đã được tạo ra vào thực 13 z tiễn sản xuất, đời sống và mang lại các hiệu quả về khoa học, công nghệ, kinh tế, xã hội. Năng lực NC&TK, tiếp cận ở góc độ liên quan đến năng lực công nghệ, là một yếu tố cấu thành năng lực công nghệ cùng với các yếu tố khác như hạ tầng thông tin, hạ tầng công nghiệp, năng lực thực hiện các dịch vụ kỹ thuật. b) Các yếu tố của năng lực NC&TK Với cách tiếp cận theo các yếu tố đầu vào của hoạt động NC&TK, năng lực NC&TK thường được xem xét trên các yếu tố cơ bản là nhân lực, tài chính, thông tin KH&CN và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ NC&TK [5] [10].
- Về nhân lực, năng lực NC&TK của một tổ chức thể hiện qua số lượng, cơ cấu về trình độ chuyên môn, về biên chế ( chính nhiệm, kiêm nhiệm, hợp đồng), về giới tính. của nhân lực tham gia hoạt động NC&TK và khả năng đáp ứng các yêu cầu của hoạt động này. Theo OECD, nhân lực NC&TK là toàn bộ những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động NC&TK và những người thực hiện các dịch vụ trực tiếp cho hoạt động NC&TK như cán bộ quản lý, cán bộ hành chính, nhân viên văn phòng trong đơn vị NC&TK [8]. Ngoài ra năng lực về nhân lực còn được thể hiện qua việc phối hợp sử dụng nhân lực (chuyên gia) ở bên ngoài và tình hình đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ nhân lực bên trong tổ chức.