CHƯƠNG 1 BIỆN PHÁP PHONG TỎA TÀI KHOẢN, TÀI SẢN Ở NƠI GỬI GIỮ 1. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ 1. Khái niệm biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ Từ điển Tiếng Việt định nghĩa tài khoản là “số kế toán dùng để phản ánh tình hình biến động của các loại vốn và nguồn vốn”4. Tài khoản gắn liền với hoạt động kế toán nói chung, được phát hành phổ biến các tổ chức tín dụng.
Khi được tạo lập, hệ thống quản lý của các tổ chức tín dụng sẽ thiết lập và quản trị nhiều trường dữ liệu liên quan như: tên chủ tài khoản, địa chỉ, số tiền gửi vào và rút ra, số tiền lãi được hưởng… Có thể hiểu, “tài khoản ngân hàng là một bảng mang tên họ của cá nhân hoặc tên giao dịch của tổ chức dưới những mã số do ngân hàng quy định, trong đó kê khai những khoản nợ và có của khách hàng, phản ánh tương quan tình hình tài chính giữa khách hàng và ngân hàng”5.Về mặt pháp lý, tài khoản là hình thức ghi nhận các giao dịch tiền tệ, liệt kê chi tiết các khoản nợ và có giữa các bên trên cơ sở một hợp đồng hay trên cơ sở quan hệ ủy quyền6. Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015 quy định tài sản gồm: (i) Vật: một vật “được xem là tài sản nếu đáp ứng được các đặc trưng cơ bản của tài sản gồm: có giá trị kinh tế, giá trị sử dụng, có thể được chiếm giữ, quản lý, kiểm soát bởi con người”7. Tùy thuộc thuộc tính pháp lý hoặc vai trò đối với đời sống xã hội, vật được phân loại thành: vật chính và vật phụ; vật chia được và vật không chia được; vật tiêu hao, vật không tiêu hao; vật cùng loại, vật đặc định; vật đồng bộ; (ii) Tiền: “được coi là tài sản thuộc quyền sở hữu bởi nó là phương tiện dùng để thanh toán, là đối tượng trong các quan hệ hợp đồng và bồi thường thiệt hại”8; (iii) Giấy tờ có giá: “chỉ được coi là tài sản khi chúng được phát hành hợp pháp và ở thời điểm có hiệu lực”9, là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, 4 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), NXB Đà Nẵng, tr. 5 Lê Tài Triển (chủ biên) (1972), Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải, NXB Sài Gòn, tr.
6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Võ Đình Toàn (chủ biên), NXB Công an Nhân dân, tr. 7 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về Tài sản, quyền sở hữu và thừa kế (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Lê Minh Hùng (chủ biên), NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 8 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về Tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế, Lê Minh Hùng (chủ biên), NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 9 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), tlđd (8), tr.
11 điều kiện trả lãi và các điều kiện khác10; (iv) Quyền tài sản: là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác11. Trước đây, Pháp lệnh THADS năm 2004 đề cập đến phong tỏa tài khoản là một biện pháp cưỡng chế THA12. Điều này không phản ánh đúng bản chất của việc phong tỏa tài khoản vì đây chỉ mới là BPBĐ THA, chưa phải là biện pháp xử lý tài sản để THA. Hơn nữa, “về mặt pháp lý nó có sự mâu thuẫn, vì cùng một đối tượng là khoản tiền trong tài khoản lại có thể bị áp dụng hai biện pháp cưỡng chế” 13 là biện pháp phong tỏa tài khoản và biện pháp khấu trừ tài khoản.
Do đó, Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) tách hai biện pháp này thành một BPBĐ và một biện pháp cưỡng chế là sự thay đổi hợp lý, tiến bộ. Đồng thời, xuất phát từ thực tế THADS cho thấy nhiều trường hợp người phải THA có tài sản ngoài là tiền còn có thể là các loại tài sản khác như kim khí quý, đá quý… đang gửi người khác giữ. Do đó, Điều 67 Luật THADS năm 2014 đã bổ sung biện pháp phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ có cùng cách thức thực hiện với biện pháp phong tỏa tài khoản nhằm tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người được THA. Pháp luật hiện hành không có quy định về khái niệm biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ.
Tuy nhiên, về mặt khoa học pháp lý, có quan điểm cho rằng đây là biện pháp pháp lý nhằm ngăn chặn các hoạt động tiền ra của chủ tài khoản mà không áp dụng với các dòng tiền chuyển vào tài khoản. Quan điểm này là hợp lý bởi vì “có như vậy, tiền vào tài khoản vẫn hoạt động bình thường mới đủ điều kiện để khấu trừ số lượng tiền để THA, chỉ khi việc khấu trừ tiền THA đủ thì mới chấm dứt phong tỏa” 14. Trong khi đó, quan điểm khác cho rằng BPBĐ THADS này sẽ làm ngừng các giao dịch chiều vào lẫn giao dịch chiều ra của tài khoản. Quan điểm này không khả thi đối với tài khoản chưa đủ tiền cần khấu trừ.
Việc niêm phong cả chiều vào và chiều ra của tài khoản làm các nguồn 10 Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Luật số 46/2010/QH12) ngày 16/06/2010, khoản 1 Điều 2 Thông tư số 01/2012/TT-NHNN ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. 11 Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015. 12 Khoản 3 Điều 37 Pháp lệnh THADS năm 2004. 13 Hồ Quân Chính, “Vài suy nghĩ về thời hạn áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án”, https://thads.vn/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=495, truy cập ngày 14/04/2021.
14 “Quy định và thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành án góp phần cải cách tư pháp trong thi hành án dân sự”, https://thads.vn/thuathienhue/noidung/tintuc/lists/thongtinkhac/view_detail.aspx?itemid=29, truy cập ngày 01/10/2021. 12 tiền chuyển vào tài khoản và hoạt động giải ngân không thể thực hiện, gây cản trở đương sự thực hiện nghĩa vụ. Từ những nội dung đã phân tích, theo tác giả, “biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ là biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được áp dụng đối với người phải thi hành nghĩa vụ trả tiền, tài sản khi họ đang có tiền, tài sản gửi giữ tại cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi giữ nhằm cô lập, đặt tài khoản, tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị phong tỏa, không thể sử dụng được nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án”. Đặc điểm của biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ Với tư cách là một trong ba BPBĐ THADS, biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ mang những đặc điểm chung của BPBĐ THADS như: (i) được áp dụng linh hoạt, tại nhiều thời điểm, địa điểm khác nhau trong quá trình THADS như tại thời điểm ra quyết định THA, khi thực hiện cưỡng chế THA…; (ii) khi được áp dụng chưa làm thay đổi, chuyển dịch về quyền sở hữu, sử dụng tài sản của chủ sở hữu, chủ sử dụng; (iii) không cần thông báo trước cho đương sự về việc áp dụng; (iv) chủ thể áp dụng hoặc yêu cầu áp dụng BPBĐ THADS phải bồi thường nếu việc áp dụng không đúng, gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPBĐ hoặc người thứ ba… Bên cạnh đó, biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ còn có những đặc trưng riêng, cụ thể như sau: Thứ nhất, biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền và thực có tiền, tài sản đang gửi giữ tại các tổ chức tín dụng, người thứ ba khác Trong lĩnh vực THADS, có hai loại nghĩa vụ chính: Một là, các nghĩa vụ mang tính nhân thân như: Buộc công khai xin lỗi; buộc nhận người lao động trở lại làm việc; buộc thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định; giao con chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định.
Hai là, các nghĩa vụ thanh toán tiền, tài sản; đây là loại nghĩa vụ rất phổ biến trong THADS. “Các nghĩa vụ thanh toán, có tính chất tài sản được thực hiện nếu người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ có tài sản để thi hành” 15, theo đó, việc phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ chỉ được thực hiện trong trường hợp người phải THA có tài khoản, tài sản gửi giữ. Biện pháp này không thể áp dụng với việc thi hành 15 Đặng Ngọc Dư (2016), tlđd (2), tr. 13 nghĩa vụ mang tính nhân thân.
Do đó, khi ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, CHV cần kiểm tra quyết định THA phải có nội dung thi hành nghĩa vụ trả tiền hoặc trả vật có giá trị. Thứ hai, đối tượng bị áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ là tài khoản, tài sản gửi giữ của người phải thi hành án Tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế cùng sự phát triển của các dịch vụ gửi giữ tiền, thanh toán qua tài khoản, chuyển khoản. dẫn đến hầu hết mọi cá nhân, tổ chức đều có tài khoản tại các, tổ chức tín dụng. Có thể nói tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác là nơi chứa tiền, tài sản lớn, phổ biến nhất hiện nay.
Đây là cơ sở cho sự tồn tại của quy phạm pháp luật về biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ khi vấn đề bảo đảm việc THADS được đặt ra. Thêm nữa, tiền trong tài khoản và tài sản gửi giữ là những tài sản có tính thanh khoản cao nên việc Luật THADS năm 2014 quan tâm dành riêng một điều luật để điều chỉnh là cần thiết.