PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia. Nghiên cứu lạm phát đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn chính sách kinh tế vĩ mô. Lạm phát được kiềm chế trong một giới hạn phù hợp và dự báo trước không những không có hại mà còn giúp cho tăng trưởng kinh tế.
Ngược lại, nếu lạm phát cao thì sẽ gây ra nhiều tổn thất cho phát triển kinh tế và ổn định kinh tế xã hội. Sau khi Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, nhất là sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế đã từng bước chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường và càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, luồng vốn tràn vào Việt Nam trong hai năm 2007-2008, các vấn đề về thị trường ngoại hối Việt Nam trong hai năm 2009 và 2010 và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cũng như nguy cơ lạm phát quay trở lại đã đặt ra nhiều thách thức mới cho việc quản lý kinh tế vĩ mô và đặc biệt trong việc kiểm soát lạm phát ở Việt Nam. Sau giai đoạn thiểu phát năm 1999 - 2003, từ năm 2004 mức giá chung lại tăng lên, năm 2007 lạm phát lên hai con sốlà 12,67%, đỉnh điểm năm 2008 là 19,89%, và lạm phát đã giảm từ mức 2 con số năm 2011 (18,13%) xuống mức một con số trong 2 năm tiếp theo (cụ thể 6,81% năm 2012 và 6,04% năm 2013). Tuy nhiên theo đánh giá của ASEAN Stats kết quả kiềm chế lạm phát ở Việt Nam vẫn còn chưa vững chắc, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Tốc độ tăng giá tiêu dùng - thước đo chính của chỉ số lạm phát của Việt Nam năm 2012 ở mức 6,81% vẫn còn cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng GDP - 5,03%. Từ những nguyên nhân trên mà trong hơn hai thập kỷ qua biến động của lạm phát và đặc biệt là các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát là một trong những chủ đề được thảo luận và nghiên cứu nhiều nhất ở Việt Nam. Những nghiên cứu được thực hiện nhằm giải thích biến động của lạm phát ở Việt Nam, bao gồm cả những nghiên cứu không mang tính định lượng lẫn những nghiên cứu thực nghiệm, ví dụ như trong những nghiên cứu của Võ Trí Thành và đồng tác giả (2000), Nguyễn Cao Đức 2 (2005) (2006), Bùi Thị Kim Thanh (2008), Phạm Thế Anh (2009), Võ Văn Minh (2009), Nguyễn Thị Thu Hằng (2010), Nguyễn Thị Liên Hoa (2013), Hoàng Đình Minh (2014), cho rằng những nguyên nhân của chỉ số giá tiêu dùng tăng cao bao gồm chính sách tiền tệ lỏng lẻo, quản lý tỷ giá cứng nhắc, thị trường không hoàn hảo và những thay đổi trong giá quốc tế và giá lương thực trong nước. Tuy nhiên các nghiên cứu (ngoại trừ Nguyễn Thị Liên Hoa (2013), Hoàng Đình Minh (2014)) với số liệu cập nhật đến năm 2010 đều lạc hậu về số liệu và do đó không tính đến những lần lạm phát gia tăng mạnh trong năm 2011 cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – 2009 đã dẫn đến một loạt những thay đổi trong môi trường và chính sách vĩ mô.
Thứ hai, hầu hết các nghiên cứu này đều sử dụng mô hình VAR với sai số ECM, SVAR, VECM và các kết quả thực nghiệm là không đồng nhất, có thể do các giai đoạn nghiên cứu khác nhau và phương pháp ước lượng khác nhau. Thứ ba, một số nghiên cứu có xu hướng ủng hộ quan điểm của Chính phủ cho rằng lạm phát chủ yếu do các nguồn từ bên ngoài. Mô hình ARDL – Bounds test được phát triển vào năm 2001 bởi M. Smith được đánh giá là một trong những mô hình thành công nhất, linh hoạt nhất và dễ sử dụng cho phân tích chuỗi thời gian đa biến, song các thảo luận về lạm phát ở Việt Nam sử dụng mô hình này còn chưa nhiều và các biến đưa vào mô hình là khác nhau do mục đích nghiên cứu là khác nhau (Bùi Thị Kim Thanh (2008) sử dụng mô hình ARDL để nghiên cứu thực nghiệm nhưng không phải là mô hình ARDL – Bounds test và số liệu chỉ cập nhật đến năm 2007 đã quá cũ).
Với chuỗi số liệu theo quý, từ quý I năm 2000 đến quý I năm 2014 là số liệu đầy đủ và hoàn toàn đáp ứng được nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, không những thế mô hình ARDL – Bounds test còn đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng trong ngắn hạn và dài hạn. Trong mỗi thời điểm nhất định, sự tính toán hợp lý về khung thời gian thích hợp sẽ cho phép chính sách tiền tệ được bắt đầu từ hôm nay đạt được mục tiêu dài hạn là ổn định giá cả, đồng thời tạo môi trường vĩ mô ổn định cho các thành phần 3 trong nền kinh tế có thể lập và thực hiện được các kế hoạch kinh doanh của mình hiệu quả nhất trong tương lai. Vì thế, luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát trong ngắn hạn và dài hạn. Để đưa ra những đánh giá về diễn biến lạm phát cần có cả nghiên cứu định lượng trong phân tích,bởi vậy tôi xin được chọn đề tài: “Biến động và các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2013” 2.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá một cách sâu sắc về tình hình lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013 trên cơ sở phân tích biến động và các nhân tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát trong giai đoạn tiếp theo. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng: hiện tượng lạm phát trong nền kinh tế mở. - Phạm vi: nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013. Phương pháp nghiên cứu - Luận văn đã sử dụng nghiên cứu tổng quan tư liệu về lạm phát để làm cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp thống kê mô tả: phương pháp này được sử dụng nhằm làm rõ hơn những phân tích định tính bằng các bảng, biểu, hình vẽ cụ thể. - Phương pháp mô hình kinh tế lượng: luận văn vận dụng mô hình trễ phân phối tự hồi quy (ARDL – Bounds test) và xây dựng mô hình để phân tích lạm phát. Phần mềm Eviews 6.0 được sử dụng để chạy mô hình ARDL – bounds test kiểm định ảnh hưởng của các biến số trong ngắn hạn và dài hạn. - Nguồn số liệu: Các số liệu sử dụng trong luận văn gồm có: GDP theo giá so sánh 2010, chỉ số giá tiêu dùng CPI, chỉ số giá hàng hóa trên thế giới, cung tiền M2, tỷ giá hối đoái VND/USD.
Số liệu thu thập chủ yếu từ các nguồn cơ bản là Tổng cục Thống kê (TCTK), Ngân hàng nhà nước (NHNN), Thống kê tài chính quốc tế (IFS) thuộc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và IMF, Ngân hàng thế giới (WB). Đóng góp của luận văn đối với thực tiễn Trên thế giới và tại Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về lạm phát và các nhân tố tác động đến lạm phát như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của lạm phát và các nhân tố tác động trong từng thời điểm và mỗi quốc gia đều khác nhau, do đó, nghiên cứu về biến số lạm phát tại từng thời điểm đều rất cần thiết đối với mỗi quốc gia. Luận văn: “Biến động và các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2013” có một số đóng góp sau đây: - Hệ thống hóa các lý thuyết về lạm phát từ trước đến nay trên thế giới và tại Việt Nam.
- Tổng hợp diễn biến của lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2013 và cho thấy được ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế Việt Nam. Luận văn đã chỉ rõ, trong một số tình huống, Chính phủ đã không chủ động để có được những quyết định hợp lý nhằm kiềm chế lạm phát. Điều này đã gây ra những tác động xấu đối với nền kinh tế. - Đo lường tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát thông qua mô hình ARDL – Bounds test, với số liệu từ quý I năm 2000 đến quý I năm 2014.
- Gợi ý cho việc điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa nhằm ổn định vĩ mô tại Việt Nam trên cơ sở kết quả phân tích. Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, các bảng biểu, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày gồm 2 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về lạm phát Chương 2: Phân tích biến động và các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2013. 5 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT Hiện nay, lạm phát là hiện tượng kinh tế phổ biến tại các quốc gia trên khắp thế giới. Lạm phát diễn ra theo tần suất khác nhau và mức độ cao thấp khác nhau tại các quốc gia đang phát triển và tại các quốc gia chậm phát triển, trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế và cả trong thời kỳ kinh tế phát triển.
Lạm phát ở một mức độ nhất định có thể là một biện pháp giúp phát triển kinh tế, làm tăng nhu cầu, thúc đẩy các hướng đầu tư có lợi. Song khi lạm phát vượt qua một giới hạn nhất định, thì nó sẽ đe dọa những thành quả mà nền kinh tế đạt được. Vì lý do đó mà các nghiên cứu về lạm phát đã xuất hiện từ rất sớm trên tất cả các quốc gia trên thế giới, tại những nơi mà đồng tiền giấy được lưu hành trong nền kinh tế ở dạng tín tệ. Trong các chức năng của tiền phải kể đến hai chức năng nổi bật là chức năng thước đo giá trị hàng hóa và chức năng lưu giữ giá trị.
Hai chức năng này của tiền đều bị ảnh hưởng trực tiếp bởi lạm phát, khi lạm phát xảy ra sẽ làm giảm sức mua của tiền và không còn tạo niềm tin cho công chúng cất trữ tiền làm tài sản lưu giữ giá trị. Tổng quan lý thuyết về lạm phát 1. Khái niệm về lạm phát Lạm phát (inflation) đã được các nhà kinh tế học nghiên cứu từ rất sớm, hầu hết các nhà nghiên cứu về lạm phát đều đồng ý rằng “lạm phát là hiện tượng tăng giá liên tục của mức giá chung trong một khoảng thời gian” [26].