Chương 1 MỘT VÀI VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ - văn hóa Hán - Việt và sự hình thành lớp từ ngữ Hán - Việt 1. Tiến xúc ngôn ngữ là một quy luật khách quan của mọi ngôn ngữ Trong quá trình hoạt động và phát triển của mỗi ngôn ngữ, sự tiếp xúc và vay mượn từ vựng của nó đối với các ngôn ngữ khác để làm giàu thêm cho mình là một quy luật tất yếu. Tiếng Việt va tiếng Han cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Các công trình nghiên cứu về lịch sử tiếng Việt, từ Hán - Việt và song ngữ đã minh chứng cho quy luật nay. Sự tiến xúc của tiếng Việt với tiếng Hán khong phải là một quá trình ngắn ngủi, đơn giản ma là một quá trình lau dai và phức tạp, nhiều chiếu, doi hỏi những nghién cứu cỏng phụ. Tiếng Hán, từ lâu, đã được thừa nhận là một ngôn ngữ có ảnh hưởng sâu rộng ở Đông Nam Á và nói chung hầu hết châu Á, đối với các nước như Việt Nam, Thái Lan, Lào, Mông Có, Nhật Bản, Triểu Tiên, Xinhgapo, Malaixia v. nhưng không phải vì thế ma sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Hán và các ngôn ngữ khác chỉ xảy ra có một chiều, bat đầu từ Hán.
Các nhà nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ và tiếp xúc Hán - Việt đã chỉ ra rằng sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ bao giờ cũng xảy ra theo cả hai chiều, có đi có lại, tuy nhiên, có chiều yếu có chiều mạnh, trong sự tương hỗ lần nhau. Bởi vì, "ngồn ngữ cũng như các nén van minh khác, ban thân nó không ne túc” (E. Các điểu kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Han Khi nói đến tiếp xúc ngôn ngữ nói chung, các nhà ngôn ngữ hoc thường nêu ra hàng loạt các nhân tổ ngoài ngôn ngữ như thương mại, quản sự, chiến tranh, địa lí, v. Qua trình tiếp xúc Hán Việt cũng không phải là một ngoại lệ.
Tuy nhiên, có thể thấy, ở day nổi lên một số nhân tố chính như sau: 6 1. Về mặt chính tri: Từ khi Triệu Da xâm lược (179 tr.CN) đến khi Ngõ Quyền đại thang quân Nam Hắn giành độc lap cho nước nhà (939), nước ta bị phong kiến Trung Quốc đô hộ hon 1000 nam. Trong suốt thời gian đó, nhiều cuộc khởi nghĩa của dan ta nổi lên một thời gian rồi lại bị dap tat và nước ta vẫn nam trong vòng cương toa của phong kiến Trung Hoa. Nhìn chung, bộ máy cai trị của người Hán ở Việt Nam vẫn luôn van hành theo một hướng, cho dù chính quyền ở Trung Quốc lúc thịnh, lúc suy.
Dé là một bộ máy thống trị kiểu Hán, được thiết kế ngày càng chặt chẽ từ trung ương xuống tận địa phương để cai trị nhân dân ta. Từ thời Đông Hán, người Hán nắm chính quyền chat hơn trước. Bắt đầu từ chính sách của Mã Viên, chính quyền cấp huyện lọt hẳn vào tay quan lại người Hán. Sau chiến tranh Nam Bac triểu, bộ máy thống trị của người Hán ngày càng thất chặt.
Sang đến đời Đường, bộ máy này được thiết kế xuống tận xã. Theo An Nam chỉ nguyện, Cao Biến đi đến dau lập hương ap đến day, riêng Biển đã lập được 159 hương cả thay (q1. Việc hoàn thiện và that chặt bộ máy chính quyền kiểu Hán nói trên là bước đi quan trọng của người Han trong việc đồ hộ nước ta và cũng là nhân tô dau tiên cho quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Han - Việt, Thậm chí, sau này, ngay cả khi nước nhà gianh được độc lap, cơ cấu bộ máy hành chính của nhà nước phong kién Việt Nam vẫn theo mô hình của nhà nước phong kiến kiểu Hán ở Trung Quốc. Về mặt xã hội: O thời kì đô hộ nước ta, do sự thiết lập chính quyền ngày càng chat chẽ như trên, người Han đã dan dan thâm nhập vào hấu hết các hoạt động quan trọng của đời sống và xã hội Việt Nam.
Trong xã hội, ngoài tầng lớp quan lại, còn có một lực lượng đông đảo khác là các “kiểu nhân” Han, theo cách gọi của Tản Thư (g. Họ là những người Hán sang Việt Nam thuộc đủ thành phần, vì nhiều lí do khác nhau: sang theo người nha, sang lánh nạn, sang làm ăn v. Tang lớp "kiểu nhãn” này tap hợp thành một lực lượng đông đảo và có thé lực trong xã hội thời bay giờ. Bên cạnh đó, binh lính người Hán luôn là một lực lượng hùng hậu trong xã hội.
7 Ngoài ra, còn một số lượng đáng kể người Hán sang Việt Nam theo chính sách di dan của chính quyền trung ương Trung Quốc. Các cư dan người Hán này thường ở lẳn với người Việt và cùng tham gia mọi hoạt động xã hội với người Việt. Khi nước nhà giành được độc lập, các cuộc xâm lược của phong kiến Trung Quốc vẫn tiếp điển. Triều đình phong kiến Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của mé hình nhà nước phong kiến Trung Quốc.
Tất cả các điều kiện xã hội trên đã tạo thành một nhãn tổ quan trọng cho sự tiếp xúc chặt chẽ, sâu sắc và lâu dai giữa hai ngôn ngữ Việt - Hán. Về mặt văn hoá: Cả khi bị đô hộ cũng như khi đã giành được độc lập, ở nước ta luôn có sự truyền bá chữ Hán, văn hoá Hán ra khắp vùng và sự hình thành một tầng lớp quý tộc người Việt để thực thi sự truyền bá đó. Sau khi Triệu Đà vừa xâm chiếm xong Âu Lạc, xã hội Au Lạc đã chuyển biến theo con đường phong kiến hoá kiểu Hán. Chính diév này đã tạo điều kiện cho việc tiếp thu văn hoá Hán và chữ Hán, làm cho xã hội Việt Nam ảnh hưởng ngày càng sâu sắc nên van hóa đó.
Căng về sau này, bọn phong kiến thống trị Trung Quốc càng thi hành chính sách đồng hoá dan ta mạnh mẽ hơn. Trong tang lớp quý tộc Việt Nam, dan dan xuất hiện những người có học thức. Người Hán thi hành chính sách hai mật: một mặt mở trường dạy chữ Hán, mặt khác, vẫn kim him, hạn chế việc học hành của người Việt. Phố biến chữ Hán cũng tức là phổ biến Nho giáo, cũng như Đạo giáo, Phật giáo và ngược lại chính sự truyền bá các đạo này đã làm cho chữ Hán ngày càng được phổ biến sâu rộng ở nước ta.
Đến đời Tuy Đường, giai cấp phong kiến Việt Nam đã tương đối có thé lực. Lúc này chế độ khoa cử được day mạnh và con cái các nhà có thế lực nhiều người học hành, đỗ đạt và được bổ làm các chức quan to. Nhiều người có tài văn chương, chữ nghĩa. Nhiều vị cao tăng Việt Nam được mời sang tan kinh đô Trung Quốc để giảng kinh cho vua Đường.
Nhiều vị nhờ tinh thông cả chữ Hán Jan chữ Phan đã dịch kinh Phat từ Phan van ra Hán văn. Đến thời kì nay, van hóa Han nói chung và ngôn ngữ (viết) Han nói riêng, đã có một ảnh hưởng sâu rộng trên toàn coi Việt Nam, đặc biệt là tại các trung tâm của chính quyền phong kiến. Đây là nhân tố quan trọng thứ ba của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt nói trên. Các giai doan tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Han Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt không chỉ xảy ra trong thời ki Bắc thuộc ở nước ta mà còn tiếp diễn trong nhiều thé kỉ tiếp theo nữa.
“Khi nói đến sự tiếp xúc với tiếng Hán, trước nay chúng ta thường chi tập trung nói đến sự tiếp xúc quy mỏ, lau dai trong thời gian từ đời Triệu Đà và nhất là từ đời nhà Han đến cuối đời nhà Đường, Chúng ta hau như không nghĩ đến khả nang vẫn có thể có những đợt tiếp xúc khác, sau khi Việt Nam đã giành được độc lập. Thực ra, sau thé ki X, khả năng đó vẫn còn” (Nguyễn Tài Can, 1979). Nếu như thé ki X được các nhà sử học coi như cái mốc để phan đỏi lịch sử dan tộc, một nửa Bắc thuộc, còn nửa kia là độc lap lâu đài, thì các nhà ngôn ngữ học cũng có thể coi đây là cái mốc để phân đôi hai giai đoạn tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt. Giai đoạn dau là giai đoạn tiếp với tư cách là cong cụ đồng hoá nhân dân ta.
Trong suốt thời ki Bắc thuộc, chữ Hán được dùng trong ngôn ngữ hành chính của nhà nước quan liễu, trong nhà chùa. trong việc thờ cúng, sáng tác van chương, trong ghi chép hang ngày. Tuy nhiên, tiếng Hán ở Việt Nam thời ki này chi được coi như một thứ ngoại ngữ ma người Việt Nam can học chứ nó không đồng hoá nổi tiếng Việt, Theo một nghiên cứu ean đây nhất, tác gia Vương Lộc (1985) cho biết, chỉ có 401 yếu tố từ vựng Hán Việt cổ đơn tiết trong tiếng Việt. Nói về song ngữ, day là trạng thái "song ngữ bd bình đẳng, song chủ yếu là tình trạng song ngữ 0 nhiên trong khẩu ngữ của những người Việt có biết nói tiếng Hán song ngữ" (Hoàng Tuệ 1996, tr.
Giải đoạn hai là giai đoạn tiếp xúc một cách có thức ý của tiếng Việt đối với tiếng Hán, một ngôn ngữ của nhữngtrị thức về các kiểu mẫu tổ chức nhà nước và chính quyền. những trí thức về kinh tế van hoá và tư tưởng phong kiến điển hình. “Chính vào lúc sự tiến xúc ngôn ngữ không bi ràng buộc hoi yêu cầu chính trị theo quan hệ chính phục, nó lại đi sâu vào ngôn ngữ. Sự vay mượn lúc này đã đóng vai trò của chính ngôn ngữ đi vay, không phải là sự cưỡng ép" (Phan Ngọc, 1985).
Đây chính là cái lí do để tiếng Hán ở Việt Nam thời kì này đã tách ra khỏi tiếng Hán ở Trung Quốc và phát triển theo con đường riêng của mình, theo quy luật riêng của tiếng Việt và cách sử dụng riêng của người Việt. Điều đáng lưu ý là, thời kì này, mặc dù Việt Nam đã giành được độc lập nhưng ưu thể và chức năng của tiếng Hán vẫn còn khá quan trọng. Tiếng Han (văn tự) vẫn được dùng làm ngôn ngữ chính thức của nhà nước phong kiến, trong hành chính, giáo dục, khoa cử, sáng tác van học, văn hoá, tế lẻ, là thứ ngôn ngữ bác học bên cạnh tiếng Việt, tiếng Nôm là ngôn ngữ bình dan được dùng trong giao tiếp đời thường. Nói về song ngữ, thi day vẫn là trang thái "song ngữ bái bình đẳng, song đã là trang thái song ngữ tấn hoá, chủ yếu qua sách Hán, văn chương Hán" (Hoàng Tuệ, 1996, tr,73).