BIẾN ĐỔI VĂN HÓA NÔNG THÔN TỈNH VĨNH LONG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

Nghiên cứu biến đổi văn hóa nông thôn Vĩnh Long từ 1986 đến nay: khám phá sự thay đổi trong phong tục, tập quán, lối sống và những tác động đến cộng đồng.

Trường đại học

Trường Đại học Trà Vinh

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

261
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Biến Đổi Văn Hóa Nông Thôn Vĩnh Long 1986 Nay

Bài viết này đi sâu vào biến đổi văn hóa nông thôn Vĩnh Long từ năm 1986, thời điểm then chốt khi Việt Nam chuyển mình sang nền kinh tế thị trường. Vĩnh Long, với vai trò lịch sử quan trọng trong quá trình mở cõi về phương Nam, đã chứng kiến những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa. Nghiên cứu này tập trung phân tích cả văn hóa vật thểvăn hóa phi vật thể, từ sản xuất nông nghiệp đến tín ngưỡng và phong tục tập quán, nhằm làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về sự chuyển mình của vùng quê này. Đoạn ca dao "Ở Hà Nội có đền Văn Thánh..." gợi nhắc về truyền thống văn hóa lâu đời của Vĩnh Long, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc bảo tồn và phát huy những giá trị đó trong bối cảnh hội nhập và phát triển. Nghiên cứu sinh hy vọng sẽ đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Vĩnh Long ngày càng giàu mạnh, văn minh, phát triển bền vững.

1.1. Bối Cảnh Kinh Tế Xã Hội Tác Động Đến Văn Hóa Vĩnh Long

Từ năm 1986, kinh tế Vĩnh Long có nhiều khởi sắc nhờ chuyển từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường. Đời sống người dân, đặc biệt ở nông thôn, đã có những cải thiện đáng kể, thể hiện qua việc sửa sang nhà cửa, mua sắm phương tiện và đầu tư cho giáo dục. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường cũng đặt ra nhiều thách thức, như ô nhiễm môi trường, đô thị hóa nhanh, và nguy cơ mai một các giá trị văn hóa truyền thống. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Vĩnh Long trong suốt nhiều thập niên qua cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến văn hóa ở các vùng nông thôn mà Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long phải lưu tâm giải quyết.

1.2. Vai Trò Của Nghiên Cứu Trong Bảo Tồn Văn Hóa Nông Thôn

Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống là một nhiệm vụ song hành quan trọng. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long nhận thức rõ điều này và đặt ra yêu cầu phải giúp những giá trị văn hóa mới phù hợp với văn hóa truyền thống của người dân, để có điều kiện phát triển hơn, từ đó giúp nhân dân có đời sống văn hóa vừa giàu bản sắc, vừa tiên tiến và hiện đại. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, cần có những nghiên cứu khoa học làm cơ sở, nền tảng. Luận án này mong muốn đóng góp vào sự nghiệp bảo tồn, phát huy, phát triển các giá trị văn hóa ở các vùng nông thôn.

II. Vấn Đề Thách Thức Trong Biến Đổi Văn Hóa Vĩnh Long

Quá trình biến đổi văn hóa ở nông thôn Vĩnh Long không chỉ mang lại những lợi ích về kinh tế và đời sống vật chất, mà còn đặt ra nhiều vấn đề và thách thức. Sự xâm nhập của các yếu tố văn hóa ngoại lai, sự thay đổi trong phong tục tập quánlễ hội truyền thống, cùng với sự tác động của quá trình đô thị hóa, đã tạo ra những xáo trộn trong đời sống tinh thần và xã hội của người dân. Đặc biệt sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Vĩnh Long trong suốt nhiều thập niên qua cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến văn hóa ở các vùng nông thôn mà Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long phải lưu tâm giải quyết như ô nhiễm môi trường, đô thị hóa quá nhanh, mai một yếu tố truyền thống văn hóa, nhiều yếu tố văn hóa biến đổi theo chiều hướng tiêu cực. Việc cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại, là một bài toán khó đòi hỏi sự quan tâm và giải quyết thấu đáo.

2.1. Nguy Cơ Mai Một Các Giá Trị Văn Hóa Truyền Thống

Một trong những thách thức lớn nhất là nguy cơ mai một các giá trị văn hóa truyền thống. Sự du nhập của lối sống hiện đại, sự thay đổi trong quan niệm về gia đình và xã hội, cùng với sự lãng quên của thế hệ trẻ, đã khiến nhiều phong tục, tập quán và lễ hội truyền thống dần bị phai nhạt. Trong khi đó, nhiều yếu tố văn hóa mới thâm nhập vào đời sống xã hội của người dân vùng nông thôn. Thực tế đó đã đặt ra nhiều rủi ro, tác động tiêu cực đến đời sống xã hội của người dân.

2.2. Tác Động Tiêu Cực Của Kinh Tế Thị Trường Đến Văn Hóa

Cơ chế thị trường, bên cạnh những lợi ích về kinh tế, cũng mang lại những tác động tiêu cực đến văn hóa nông thôn. Sự thương mại hóa các hoạt động văn hóa, sự chạy theo lợi nhuận, cùng với sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại, đã làm xói mòn các giá trị đạo đức và thẩm mỹ truyền thống. Theo quy luật, cơ chế thị trường luôn có 2 mặt: mặt tích cực (chủ yếu là sự kích thích phát triển đời sống vật chất), mặt tiêu cực (biểu hiện chủ yếu trong các thành tố phi vật thể của văn hóa).

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Biến Đổi Văn Hóa Nông Thôn VL

Nghiên cứu này sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm phương pháp liên ngành, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp điền dã dân tộc học và phương pháp phỏng vấn. Phương pháp liên ngành giúp tiếp cận vấn đề biến đổi văn hóa từ nhiều góc độ khác nhau, như kinh tế, xã hội, lịch sử và văn hóa. Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để thu thập dữ liệu định lượng về các yếu tố văn hóa vật thểphi vật thể. Phương pháp điền dã dân tộc học giúp nghiên cứu sinh trực tiếp quan sát và ghi nhận những thay đổi trong đời sống văn hóa của người dân. Phương pháp phỏng vấn được sử dụng để thu thập thông tin định tính từ các chuyên gia và người dân địa phương.

3.1. Điều Tra Xã Hội Học Về Sự Biến Đổi Văn Hóa Nông Nghiệp

Cuộc điều tra xã hội học được thực hiện với mẫu 500 người dân tại 3 xã, 12 thôn ở các huyện Vũng Liêm, Trà Ôn và thị xã Bình Minh. Đối tượng khảo sát chủ yếu là nông dân trồng lúa, trồng rau, và một số cán bộ xã, cán bộ Sở, Phòng Nông nghiệp phát triển nông thôn, cán bộ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Nhà nghiên cứu văn hóa. Nội dung khảo sát tập trung vào đánh giá sự biến đổi trong văn hóa sản xuất nông nghiệp, ẩm thực, trang phục, giao thông, cư trú, làng nghề, lễ hội truyền thống, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, và phong tục tập quán.

3.2. Phỏng Vấn Chuyên Gia Người Dân Về Tác Động Văn Hóa

Phương pháp phỏng vấn được thực hiện thông qua 20 cuộc phỏng vấn với các đối tượng khác nhau, bao gồm nông dân, cán bộ các ngành, sinh viên, linh mục, và sư. Các ý kiến thu thập được từ phỏng vấn sâu đã giúp nghiên cứu sinh có những nhìn nhận đa chiều hơn về các vấn đề được nghiên cứu, đặc biệt là về những tác động của biến đổi kinh tế - xã hội đến văn hóa nông thôn.

IV. Ứng Dụng Nghiên Cứu Bảo Tồn Văn Hóa Truyền Thống VL

Nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở việc phân tích và đánh giá, mà còn hướng đến việc đề xuất các giải pháp ứng dụng thực tiễn để bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở nông thôn Vĩnh Long. Các giải pháp này tập trung vào việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của văn hóa truyền thống, khuyến khích sự tham gia của người dân vào các hoạt động văn hóa, và hỗ trợ các làng nghề truyền thống phát triển bền vững. Bên cạnh đó, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long cũng đặt ra nhiệm vụ song hành là phải bảo tồn, gìn giữ và phát huy được những bản sắc văn hóa truyền thống của nhân dân từ nông thôn đến thành thị; giúp những giá trị văn hóa mới, phù hợp với văn hóa truyền thống của người dân có điều kiện phát triển hơn.

4.1. Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Gắn Với Cộng Đồng Nông Thôn

Một trong những giải pháp quan trọng là phát triển du lịch văn hóa gắn với cộng đồng nông thôn. Việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống, như làng nghề, lễ hội, và ẩm thực địa phương, có thể tạo ra nguồn thu nhập cho người dân và đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa. Tuy nhiên, cần đảm bảo rằng hoạt động du lịch được thực hiện một cách bền vững, không gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và văn hóa địa phương.

4.2. Nâng Cao Vai Trò Của Giáo Dục Trong Bảo Tồn Văn Hóa

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa. Cần tăng cường giáo dục về lịch sử, văn hóa, và truyền thống địa phương trong các trường học, đồng thời khuyến khích các hoạt động ngoại khóa nhằm giúp học sinh hiểu rõ hơn về giá trị của văn hóa truyền thống. Đồng thời, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long cũng đặt ra nhiệm vụ song hành là phải bảo tồn, gìn giữ và phát huy được những bản sắc văn hóa truyền thống của nhân dân từ nông thôn đến thành thị.

V. Kết Luận Hướng Tới Phát Triển Văn Hóa Nông Thôn VL

Nghiên cứu về biến đổi văn hóa nông thôn Vĩnh Long từ năm 1986 đến nay đã cho thấy những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa của vùng quê này. Quá trình hội nhập và phát triển đã mang lại nhiều cơ hội, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức. Việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hóa mới, là một nhiệm vụ quan trọng để xây dựng một nông thôn Vĩnh Long giàu đẹp, văn minh và phát triển bền vững. Nghiên cứu sinh hy vọng rằng những kết quả của luận án sẽ góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Vĩnh Long ngày càng giàu mạnh, văn minh, phát triển bền vững.

5.1. Tổng Kết Các Xu Hướng Biến Đổi Văn Hóa Nông Thôn VL

Luận án đã chỉ ra các xu hướng chính trong biến đổi văn hóa nông thôn Vĩnh Long, bao gồm sự thay đổi trong văn hóa sản xuất, sinh hoạt, và tín ngưỡng. Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích các yếu tố tác động đến quá trình biến đổi này, như kinh tế thị trường, đô thị hóa, và công nghệ thông tin. Xu hướng biến đổi từ văn hóa nông thôn sang văn hóa đô thị, xu hướng biến đổi văn hóa nông thôn tỉnh Vĩnh Long theo những định hướng của Đảng và Nhà nước, biến đổi văn hóa nông thôn theo xu hướng hội nhập văn hóa quốc tế.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Giải Pháp Hỗ Trợ Văn Hóa VL

Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất một số chính sách và giải pháp nhằm hỗ trợ bảo tồn và phát huy văn hóa ở nông thôn Vĩnh Long. Các giải pháp này tập trung vào việc nâng cao nhận thức cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của người dân, và hỗ trợ các hoạt động văn hóa truyền thống. Chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước tác động đến biến đổi văn hoá nông thôn tỉnh Vĩnh Long, yếu tố truyền thông, nâng cao nhận thức của người dân về bảo tồn và phát huy văn hoá, yếu tố tác động của công nghệ số trong xây dựng và phát triển bền vững văn hoá nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long.

16/05/2025
Biến đổi văn hóa nông thôn tỉnh vĩnh long từ năm 1986 đến nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nhóm công trình liên quan đến cơ sở lý luận và lý thuyết nghiên cứu Công ước ngày 17/10/2003 của UNESCO là một công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có “xét đến mối tương quan chặt chẽ giữa di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể và di sản thiên nhiên”1. Đây là công trình liên quan đến cơ sở lý luận về cấu trúc văn hóa theo hướng phân chia văn hóa vật thể và phi vật thể.

Đây cũng là định hướng cấu trúc văn hóa cho các công trình nghiên cứu văn hóa, xây dựng các văn bản pháp quy về văn hóa. Trong đó có Luật Di sản văn hóa. Luật Di sản văn hóa số 10/VBHN, ngày 23/7/2013 được Quốc hội ban hành là văn bản hợp nhất Luật Di sản văn hóa. Trong đó, mục giải thích từ ngữ đã làm rõ nội hàm của văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể (Văn phòng Quốc Hội, 2013, Văn bản hợp nhất Luật Di sản văn hóa tr.

Công trình “Văn hóa nguyên thủy” của tác giả Tylor Edward là công trình quan trọng trong nghiên cứu biến đổi văn hóa theo xu thế ủng hộ thuyết tiến hoá văn hoá khi phân chia xã hội theo thứ bậc đơn tuyến và chung mẫu hình biến đổi xã hội và văn hoá công trình “Văn hóa nguyên thủy” gồm 02 tập: “The origins of primitive culture” và “Religion in primitive culture”, xuất bản tại London năm 1874 cho rằng “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”. Lý thuyết Hiện đại hóa văn hóa của Talcott Parsons (1902 – 1979), yếu tố chứa đựng những biến đổi văn hóa từ môi trường nông thôn sang môi trường đô thị (đô thị hóa) nhấn mạnh 5 chiều kích trong tiến hóa và hiện đại hóa trong quan hệ và thiết chế xã hội ở các địa phương bao gồm các thành tố văn hóa vật thể và phi vật thể.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Cong-uoc-bao-ve-di-san-van-hoa-phi-vat-the-130943.aspx (truy cập 26 10/2023) 11 Fredrik Barth (1928 – 2016) là một trong những tác giả của Thuyết sự lựa chọn duy lý. Đây là dòng chính luận về sự lựa chọn của mỗi con người. Theo đó, con người được hiểu là tập hợp các cá nhân có khả năng lựa chọn lý tính đối với các hành vi đời sống văn hóa xã hội của riêng mình và văn hóa cộng đồng được hình thành và vận hành trên nền tảng của sự lựa chọn lý tính ấy.

Công trình “Lý thuyết về biến đổi văn hóa - Phương pháp luận về tiến hóa đa hệ” (Theory of Cuture Change - The Methodology of Multilinear evolution) của Julian Haynes Steward do University of Illinois ấn hành tại Urbana năm 1955. Theo tác giả, mỗi nền văn hóa có cách tiến hóa khác nhau tùy thuộc vào những điều kiện đặc thù của nền văn hóa đó. Để chứng minh nhận định này, ông tiến hành nghiên cứu so sánh các cách tiến hóa của nhiều nền văn hóa qua phân tích quá trình phát triển lịch sử của mỗi nền văn hóa. Ông đặc biệt quan tâm đến vai trò quan trọng của điều kiện môi trường trong sự biến đổi mang tính tiến hóa của văn hóa.

Đề tài: “Văn hóa nông thôn tỉnh Vĩnh Long, truyền thống và biến đổi” sẽ vận dụng lý thuyết về biến đổi văn hóa của các tác giả khác nhau nhưng chủ yếu theo lý thuyết liên quan đến biến đổi của Julian Steward. Nhóm công trình nghiên cứu về văn hóa và biến đổi văn hóa Đây là nhóm các công trình nghiên cứu có nhiều nội dung liên quan đến văn hóa và biến đổi văn hóa nên có thể chia các nhóm nhỏ như sau: 1. Nhóm công trình liên quan đến văn hóa phát triển, công nghiệp hóa, đô thị hóa nông nghiệp nông thôn Emery N. Castle với công trình “Công nghiệp hóa nông nghiệp ở vùng nông thôn nước Mỹ” (Agricultural industrialization in the American countryside), Henry A.

Wallace, October 1998; Ralph L. Article first published online: 28 OCT issue 2009 bởi American Anthropological Association Issue. Volume 53, issue pages 1 - 10, January - March 1951. Đây là những công trình, bài viết của những nhà Nhân học đề cập đến những vấn đề đang thay đổi của nông thôn nước Mỹ trước những chuyển dịch tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa.

Những nghiên cứu về tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra trên nhiều bình diện, lĩnh vực văn hóa, xã hội, như sự gia tăng dân số, phát triển mạnh các khu công nghiệp gây nên sự căng thẳng về 12 nguồn lực lao động và ổn định, an toàn xã hội; vai trò, chức năng gia đình suy giảm, những vấn đề gia đình nảy sinh: tỷ lệ ly hôn tăng đáng kể, phá vỡ cấu trúc gia đình truyền thống, vấn nạn tự tử báo động, làn sóng di dân ra thành thị, sự mất cân bằng về giới giữa thành thị và nông thôn. Những vấn đề này được nghiên cứu ở nhiều góc độ tiếp cận và những phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành, liên văn hóa, phân tích hồi quy, thực chứng… Qua đó, đã cố gắng phác họa, đi sâu vào nghiên cứu những tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang diễn ra trên nhiều chiều khác nhau của đời sống văn hóa, xã hội. Có thể kể một số trong nhiều công trình: Paul S. Liu, Jianping Hu and X.

Song, “Tỷ lệ tự tử ở Trung Quốc trong thập kỷ diễn ra những thay đổi nhanh” (Suicide rates in China during a decade of rapid social changes); Karen A. Miller, “Tác động của công nghiệp hoá đến thái độ của nam giới về gia đình mở rộng và quyền của người phụ nữ: một nghiên cứu xuyên quốc gia” (the effects of industrialization on Men’s attitudes toward the extended family and women’s rights: A cross - national Study) do Tạp chí Hôn nhân và Gia đình, Journal of Marriage and Family, Vol.153 - 160; Published by, National council on family relations; hay bài viết của nhóm nghiên cứu Sara R. Curran and Abigail C. Saguy, “Migration and Cultural change: a role for gender and social networks?” (Di dân và thay đổi văn hóa: một vai trò giới và mạng xã hội?), Journal of International Women's Studies Volume 2, Issue 3 Article.

Đây là bài viết được nhóm tác giả nghiên cứu thu thập dữ liệu từ Thái Lan cùng tài liệu thứ cấp từ Mỹ La tinh (nhóm di cư vùng Caribe), với nỗ lực chứng minh là mạng xã hội và giới tính là những yếu tố thiết yếu để hiểu về quá trình di cư và những thay đổi văn hóa. Trong các công trình của Ronald Inglehart (2004), Human beliefs and Values: a cross-cultural sourceebook based on the 1999-2002 values surveys (Những niềm tin và giá trị con người: một nghiên cứu xuyên văn hóa dựa trên những kết quả khảo sát năm 1999 - 2002); và công trình “Culture shift in advanced industrial society” (Sự thăng trầm văn hóa trong xã hội công nghiệp phát triển), Publishsed by Princeton University Press 1990 là những nghiên cứu sâu về biến đổi các giá trị văn hóa thông qua một cuộc khảo sát toàn cầu. 13 Tác giả Ronald Inglehart (trên tạp chí Xã hội học): Globalization and postmodern values (Toàn cầu hóa và những giá trị hậu hiện đại, The Washington Quarterly volume 23, Issue 1, 2000.215 - 228); Version of record first published: 07 jan 2010… đã nhấn mạnh khi các nước trở nên công nghiệp hóa hơn, dường như người ta không tìm thấy mối quan hệ trực tiếp giữa sức mạnh tài chính và tình cảm tốt đẹp. Trong khi thế giới hiện đại ưu tiên phát triển kinh tế thì xã hội hậu hiện đại sẽ đặt nhiều sự quan tâm hơn vào bảo vệ môi trường và văn hóa truyền thống.

Trong bài viết của Ronal Inglehart and Wayne “Modernization, cultural change and the persistence of traditional values” (Hiện đại hóa, thay đổi văn hóa và sự hiện diện những giá trị truyền thống), American Sociological Review; Vol., 19 - 51, được nhóm tác giả sử dụng dữ liệu từ ba cuộc khảo sát về giá trị thế giới, bao gồm 65 quốc gia (70% dân số thế giới) đã nhấn mạnh rằng các giá trị văn hóa có sự ảnh hưởng lâu dài và tự trị đối với xã hội. Nhóm tác giả khẳng định rằng đã tìm thấy bằng chứng về sự thay đổi văn hóa lớn và sự tồn tại của truyền thống văn hóa đặc biệt như các di sản văn hóa của các nhóm xã hội theo đạo Tin Lành, Công giáo, Khổng giáo… Sự phát triển kinh tế còn gắn liền với sự thay đổi các định mức và giá trị tuyệt đối với các giá trị ngày càng trở nên hợp lý, khoan dung, tin cậy và đồng thuận hơn. Với những nghiên cứu thực nghiệm này của tác giả, cho thấy giá trị văn hóa vẫn có một “quyền lực” đặc biệt trong xã hội hiện đại nếu như bản thân cộng đồng địa phương biết lưu giữ và tạo thành sức mạnh chung. Công trình “Biến đổi văn hóa Melayu ở Malaysia trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa” do Phạm Thanh Tịnh chủ biên.

Tác giả đã góp phần làm sáng tỏ sự chuyển đổi hệ giá trị văn hóa (về hôn nhân, các giá trị tình cảm, mối quan hệ giữa cha mẹ - con cái - vợ chồng; về đạo đức xã hội và văn hóa truyền thống; cá nhân và cộng đồng; về thẩm mỹ) ở Malaysia. Tác giả cũng đưa ra những vấn đề mang tính gợi mở bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc giữ gìn, bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế. Hội nhập và toàn cầu hóa một mặt sẽ xói mòn sự đa dạng, đặc thù văn hóa tộc người, văn hóa truyền thống, đồng thời nhiều giá trị mới được hình thành và phát triển. Tóm lại, những công trình, bài viết nghiên cứu ngoài nước đã chú trọng sự biến đổi văn hóa do những tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa được tiếp cận từ nhiều góc độ liên ngành và liên văn hóa; nhiều nghiên cứu được chứng minh 14 bằng thực nghiệm, phác họa những đặc điểm khác nhau giữa ba khái niệm: công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa… trong nghiên cứu tác động của quá trình công nghiệp hóa lên đời sống văn hóa, xã hội.

Đó là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho đề tài cả về lý thuyết, phương pháp và kế thừa về mặt dữ liệu nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ