ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------ NGUYỄN THỊ THANH MỸ BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN VĂN GIANG (HƯNG YÊN) SAU QUÁ TRÌNH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA (1999 - 2008) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ HÀ NỘI – 2009 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --------------------------- NGUYỄN THỊ THANH MỸ BIẾN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ - XÃ HỘI VĂN GIANG (HƯNG YÊN) SAU QUÁ TRÌNH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA 1999 - 2008 Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60 22 54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Đình Lê HÀ NỘI 2009 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT. Lí do chọn đề tài . Lịch sử nghiên cứu vấn đề . Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ . Phạm vi nghiên cứu . Phương pháp nghiên cứu . Bố cục của luận văn . 13 CHƯƠNG 1:QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở HUYỆN VĂN GIANG (HƯNG YÊN) 1999 – 2008.1 Một số vấn đề về chủ trương dồn điền đổi thửa .1 Quan hệ sở hữu, sử dụng đất đai ở Việt Nam trước khi có chủ trương DĐĐT . Tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam: nguyên nhân, thực trạng và hệ quả. Chủ trương DĐĐT của nhà nước: quá trình thực hiện và những kết quả ban đầu . Quá trình thực hiện DĐĐT ở tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang .1 Quá trình triển khai công tác DĐĐT ở Hưng Yên. Tình hình thực hiện DĐĐT ở huyện Văn Giang . 32 CHƯƠNG 2:BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI VĂN GIANG KHI THỰC HIỆN DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA (1998 – 2008) . Chuyển biến trong quy hoạch, sử dụng đất. Chuyển biến trong quy hoạch, sử dụng đất tự nhiên và đất nông nghiệp của huyện. Những chuyển biến trong cơ cấu đất và cây trồng nông nghiệp.2 Những biến đổi về kinh tế .1 Biến đổi cơ cấu kinh tế chung. Chuyển dịch nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá . Sự xuất hiện những mô hình kinh tế hiệu quả cao . Những biến đổi về xã hội . Biến đổi trong lực lượng lao động . Thu nhập và đời sống của nhân dân . 79 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Việc làm cho lao động ở nông thôn . 81 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VĂN GIANG 1999 - 2008. Tiến độ thực hiện còn chậm và chưa triệt để . Những vướng mắc từ cơ chế. DĐĐT chưa gắn liền với quá trình tích tụ ruộng đất . Về mặt xã hội . Một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình DĐĐT của Văn Giang . Một số kiến nghị .1 Với công tác DĐĐT ở Văn Giang. DĐĐT và vấn đề tích tụ ruộng đất ở Việt Nam. Vấn đề công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO . 114 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DĐĐT: Dồn điền đổi thửa ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng HTX: Hợp tác xã HU: Huyện uỷ UBND: Uỷ ban nhân dân huyện TU: Tỉnh uỷ TƯ: Trung ương 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Đất đai là một nguồn lực quan trọng của Việt Nam. Sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam trong thời gian dài phụ thuộc vào việc sử dụng có hiệu quả hay không nguồn lực đất đai và những chính sách có liên quan đến đất đai, thị trường đất, các đầu tư và nguồn lực tương ứng. Cũng như nhiều nơi trên thế giới, đất đai và sử dụng đất đai luôn là vấn đề cơ bản trong lịch sử cũng như trong sự phát triển của Việt Nam hiện tại và tương lai. Với khoảng 75% dân số vẫn còn sinh sống ở khu vực nông thôn, thì các vấn đề liên quan đến tập trung đất đai, tính linh hoạt trong sử dụng đất, vai trò của thay đổi kĩ thuật, công nghệ hay ảnh hưởng của các chính sách về thuế, tín dụng… luôn luôn là vấn đề có tính thời sự. Là một nước nông nghiệp, mọi chủ trương, chính sách về đất đai của Việt Nam đều có tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, đến toàn bộ nền kinh tế và đời sống xã hội. Nửa cuối thế kỉ XX, Việt Nam đã chứng kiến nhiều nỗ lực cải cách đất đai của chính quyền ở cả hai miền Nam, Bắc. Đặc biệt là từ sau năm 1986, những chính sách về nông nghiệp nói chung, đất đai nói riêng đã tác động trực tiếp đến đặc điểm của nền nông nghiệp Việt Nam. Đặc điểm của đất nông nghiệp Việt Nam từ sau đổi mới là tình trạng manh mún, phân tán. Tình trạng này bắt nguồn từ việc Nhà nước luôn đảm bảo tính công bằng trong chính sách giao quyền sử dụng đất cho nông dân. Nhưng mặt trái của sự công bằng lại là tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, thủ công, năng suất thấp, khó áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp, nhiều cơ hội để công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền nông nghiệp đã bị bỏ qua. Từ năm 1993, Chính phủ đã có chủ trương khuyến khích các địa phương cho các hộ tiến hành đổi ruộng để tránh tình trạng một hộ phải 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com canh tác trên hai mảnh ruộng. Chủ trương này đã được áp dụng ở một số địa phương và cho kết quả khả quan. Những năm 1999 – 2000, chủ trương dồn điền đổi thửa (DĐĐT) - hay còn gọi là dồn thửa đổi ruộng - đã trở thành một chủ trương lớn trong cả nước, trong đó chú trọng ở đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), nơi có tình trạng ruộng đất manh mún nhất nước, nhằm tập trung ruộng đất thành những mảnh có diện tích tương đối lớn, để từng bước phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá, hiện đại, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hưng Yên là một trong những tỉnh đi đầu thực hiện công tác này. Từ năm 1998, Hưng Yên đã có chủ trương thực hiện DĐĐT đối với diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong tỉnh, nhằm đưa nền nông nghiệp của tỉnh phát triển mạnh, tận dụng được lợi thế của một tỉnh nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Hồng có địa hình bằng phẳng, đất đai phì nhiêu. Chủ trương này của Hưng Yên đã nhanh chóng được triển khai đến từng thôn, xã và mang lại những hiệu quả kinh tế khả quan. Là một trong những huyện có nền kinh tế - xã hội phát triển hàng đầu của Hưng Yên, lại nằm ở vị trí địa lý tương đối thuận lợi, huyện Văn Giang đã sớm triển khai và hoàn thành tốt công tác DĐĐT. Sau một thời gian tiến hành, công cuộc DĐĐT ở Văn Giang không những khắc phục tình trạng ruộng đất phân tán, manh mún mà còn mở ra một hướng đi mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Trong những năm từ 1999 đến 2008, chủ trương DĐĐT đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất tập trung, cung cấp hàng hoá cho thị trường, tạo đà để các ngành kinh tế khác phát triển và nâng cao đời sống của nhân dân, tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế, xã hội của địa phương. Với mong muốn tìm hiểu những biến đổi về kinh tế - xã hội của huyện Văn Giang sau 10 năm triển khai công tác DĐĐT tôi chọn đề tài: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Biến đổi kinh tế - xã hội Văn Giang (Hưng Yên) sau quá trình DĐĐT 1999 - 2008 làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình. Lịch sử nghiên cứu vấn đề DĐĐT là một chủ trương lớn của nhà nước nhằm làm thay đổi cung cách sử dụng đất nông nghiệp, thói quen, tập quán làm ăn của người nông dân, đưa người nông dân đến gần hơn nữa với nền nông nghiệp hàng hoá, một trong những bước quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng kết, đánh giá về tình hình đất nông nghiệp và vấn đề sử dụng, sở hữu đất nông nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt là sau công cuộc đổi mới. Năm 1996, hai tác giả Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang có công trình nghiên cứu “Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”, NXB CTQG, Hà Nội 1996, đã đưa ra những nhìn nhận, đánh giá, phân tích về đặc điểm nền nông nghiệp Việt Nam, tác động của những chính sách kinh tế đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam qua các giai đoạn từ 1981 đến 1996. Tuy nhiên, vấn đề tập trung ruộng đất mới chỉ được nhắc đến như một giải pháp cho nền nông nghiệp Việt Nam trong thời gian tiếp theo. Năm 2001, Khoa Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn trường Đại học Kinh tế quốc dân, xuất bản cuốn sách “Nông nghiệp nông thôn Việt Nam bước vào thế kỉ XXI”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 2001, đã đánh giá tình hình nông nghiệp Việt Nam cho đến hết năm 2000, trong đó đề cập đến thực trạng nông nghiệp Việt Nam và những và những chính sách phát triển nông nghiệp trước năm 2000. Sách lược DĐĐT ở đây được đánh giá là một chính sách tích cực nhưng tiến trình thực hiện và hiệu quả chưa cao. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2006, tác giả Đặng Kim Sơn có công trình nghiên cứu: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm sau đổi mới, NXB CTQG, Hà Nội 2006, đã có những nhìn nhận, phân tích và đánh giá về nông nghiệp Việt Nam những năm trước và sau đổi mới. Tác giả có đề cập đến những Nghị quyết của TƯ về vấn đề DĐĐT và tác động của chủ trương này đến nông nghiệp Việt Nam cho tới năm 2005. Những phân tích của Đặng Kim Sơn về tính chất manh mún của ruộng đất, đặc biệt ở khu vực ĐBSH và kết quả trước mắt của công tác DĐĐT đã khẳng định đây là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam và thế giới. Năm 2008, tác giả Nguyễn Hữu Tiến trong cuốn “Phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 2008, đã dành một phần tập trung đánh giá tình hình “tích tụ và tập trung đất nông nghiệp” ở Việt Nam.
Tổng quan nghiên cứu
Trong giai đoạn 1999-2008, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), đã trải qua quá trình dồn điền đổi thửa (DĐĐT) nhằm khắc phục tình trạng manh mún, phân tán đất nông nghiệp. Trước khi thực hiện DĐĐT, bình quân mỗi hộ nông dân Văn Giang sở hữu khoảng 3,83 thửa ruộng với diện tích nhỏ lẻ, gây khó khăn cho sản xuất hàng hóa và ứng dụng khoa học kỹ thuật. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá những biến đổi kinh tế - xã hội của huyện sau 10 năm triển khai DĐĐT, tập trung vào chuyển biến trong quy hoạch, sử dụng đất, cơ cấu kinh tế, lao động và đời sống nhân dân. Phạm vi nghiên cứu bao gồm toàn bộ 11 xã, thị trấn của huyện Văn Giang trong giai đoạn 1999-2008. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chính sách đất đai, thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất và cải thiện đời sống người dân địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn dựa trên hai khung lý thuyết chính: lý thuyết phát triển nông thôn và lý thuyết quản lý đất đai. Lý thuyết phát triển nông thôn nhấn mạnh vai trò của việc tập trung đất đai trong nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Lý thuyết quản lý đất đai tập trung vào các quyền sử dụng đất, cơ chế phân bổ và chuyển đổi đất đai nhằm đảm bảo công bằng và hiệu quả kinh tế. Các khái niệm chính bao gồm: dồn điền đổi thửa (DĐĐT), manh mún đất đai, tích tụ ruộng đất, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, và công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp thống kê và phân tích định lượng. Nguồn dữ liệu chính bao gồm số liệu thống kê từ Niên giám Thống kê huyện Văn Giang các năm 2000, 2003, 2005, 2008; báo cáo của UBND huyện, Sở Địa chính tỉnh Hưng Yên; các văn bản pháp luật liên quan đến đất đai và chính sách DĐĐT. Cỡ mẫu nghiên cứu là toàn bộ 11 xã, thị trấn của huyện Văn Giang với hơn 19.000 hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau DĐĐT. Phương pháp chọn mẫu là chọn toàn bộ đối tượng chịu tác động của DĐĐT trong huyện để đảm bảo tính đại diện. Phân tích số liệu sử dụng phương pháp so sánh trước và sau DĐĐT, phân tích biến động cơ cấu đất đai, lao động và thu nhập. Timeline nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 1999-2008, với các mốc quan trọng như năm 2001 khi huyện chính thức triển khai DĐĐT diện rộng.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Giảm manh mún đất đai: Sau DĐĐT, bình quân số thửa ruộng trên một hộ giảm từ 3,83 xuống còn khoảng 3,05 thửa/hộ năm 2003, tương đương giảm 64,8% số thửa so với trước. Tỉ lệ hộ có dưới 3 thửa tăng lên rõ rệt, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất tập trung.
-
Chuyển biến trong quy hoạch và sử dụng đất: Diện tích đất nông nghiệp giảm từ 5032,8 ha năm 2000 xuống còn 4437,8 ha năm 2008, trong khi diện tích đất chuyên dùng và đất ở tăng lên lần lượt 75,6 ha và 793,2 ha. Đất trồng cây lâu năm tăng mạnh từ 0,3 ha lên 1027,9 ha, phản ánh xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng giá trị kinh tế cao.
-
Tăng thu nhập và cải thiện đời sống: Thu nhập bình quân từ kinh tế trang trại tăng từ khoảng 90 triệu đồng/trang trại năm 2003 lên gần 190 triệu đồng năm 2008. Nguồn thu ngân sách từ cho thuê đất tăng từ 15,18 triệu đồng năm 2000 lên 3.582 triệu đồng năm 2008, cho thấy hiệu quả kinh tế từ việc quản lý và sử dụng đất được nâng cao.
-
Chuyển dịch cơ cấu lao động: Lực lượng lao động trong nông nghiệp chiếm 72,1% tổng số lao động năm 2008, giảm so với trước, đồng thời lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng lên, phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đa ngành.
Thảo luận kết quả
Việc giảm số thửa ruộng và tăng diện tích thửa ruộng trung bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng cơ giới hóa và kỹ thuật canh tác hiện đại, nâng cao năng suất cây trồng. Sự chuyển đổi diện tích đất trồng lúa sang cây lâu năm và nuôi trồng thủy sản phù hợp với điều kiện tự nhiên và xu hướng thị trường, góp phần tăng giá trị sản xuất nông nghiệp. So với các nghiên cứu trong vùng ĐBSH, kết quả ở Văn Giang tương đồng với xu hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa và công nghiệp hóa nông thôn. Việc tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân cho thấy DĐĐT không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn có tác động tích cực về mặt xã hội. Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ thể hiện sự giảm số thửa ruộng/hộ, bảng biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng và biểu đồ tăng trưởng thu nhập kinh tế trang trại.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Tăng cường tuyên truyền và vận động: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về lợi ích của DĐĐT và tích tụ ruộng đất nhằm nâng cao nhận thức và sự đồng thuận của người dân, đặc biệt tại các xã còn nhiều hộ có số thửa lớn.
-
Hỗ trợ kỹ thuật và vốn: Cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tạo điều kiện tiếp cận vốn vay ưu đãi cho các hộ nông dân và trang trại để phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, nâng cao hiệu quả kinh tế.
-
Hoàn thiện chính sách quản lý đất đai: Rà soát, điều chỉnh các quy định về hạn điền, chuyển nhượng quyền sử dụng đất để tạo thuận lợi cho tích tụ ruộng đất hợp pháp, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội.
-
Phát triển hạ tầng nông thôn: Đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng và các công trình phúc lợi nhằm hỗ trợ sản xuất tập trung và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
-
Xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp đa dạng: Khuyến khích phát triển các mô hình kinh tế trang trại, trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản kết hợp dịch vụ du lịch sinh thái nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập.
Các giải pháp trên nên được thực hiện trong vòng 5 năm tới, với sự phối hợp của UBND huyện, các xã, các tổ chức nông dân và các cơ quan chuyên môn.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Cán bộ quản lý nhà nước về đất đai và nông nghiệp: Giúp hiểu rõ tác động của chính sách DĐĐT, từ đó xây dựng và điều chỉnh chính sách phù hợp với thực tiễn địa phương.
-
Nhà nghiên cứu và học viên cao học ngành lịch sử, kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn: Cung cấp dữ liệu thực tiễn và phân tích sâu sắc về biến đổi kinh tế - xã hội sau DĐĐT.
-
Các tổ chức nông dân và hợp tác xã: Hỗ trợ trong việc tổ chức sản xuất, tích tụ ruộng đất và áp dụng kỹ thuật canh tác hiện đại.
-
Nhà hoạch định chính sách và phát triển kinh tế vùng ĐBSH: Tham khảo kinh nghiệm thực tiễn để nhân rộng mô hình DĐĐT và phát triển kinh tế nông thôn bền vững.
Câu hỏi thường gặp
-
Dồn điền đổi thửa là gì và tại sao cần thực hiện?
DĐĐT là quá trình tập trung, sắp xếp lại các thửa đất nhỏ lẻ thành những thửa lớn hơn, giúp giảm manh mún đất đai. Việc này cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất, áp dụng cơ giới hóa và kỹ thuật hiện đại, đồng thời thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa. -
Quá trình DĐĐT ở Văn Giang diễn ra như thế nào?
Quá trình bắt đầu từ năm 1999, với sự chỉ đạo của UBND tỉnh và huyện, triển khai đồng bộ từ cấp xã đến thôn, lấy ý kiến nhân dân, lập phương án và thực hiện trên thực địa. Đến năm 2003, 100% xã trong huyện hoàn thành DĐĐT. -
Tác động kinh tế chính của DĐĐT tại Văn Giang là gì?
DĐĐT giúp giảm số thửa ruộng, tăng diện tích thửa trung bình, tạo điều kiện cho sản xuất tập trung, nâng cao năng suất và giá trị sản xuất nông nghiệp. Thu nhập từ kinh tế trang trại tăng gần gấp đôi trong giai đoạn nghiên cứu. -
DĐĐT ảnh hưởng thế nào đến đời sống xã hội của người dân?
DĐĐT góp phần ổn định quyền sử dụng đất, giảm tranh chấp, nâng cao hiệu quả sản xuất, từ đó cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch lao động sang các ngành nghề khác. -
Những khó khăn nào còn tồn tại trong quá trình DĐĐT?
Một số xã vẫn còn hộ có nhiều thửa ruộng, tâm lý giữ đất manh mún còn phổ biến. Việc tích tụ ruộng đất chưa triệt để do hạn chế về chính sách và nhận thức. Cần tiếp tục vận động, hỗ trợ kỹ thuật và hoàn thiện chính sách để khắc phục.
Kết luận
- DĐĐT tại huyện Văn Giang đã giảm đáng kể tình trạng manh mún đất đai, bình quân số thửa giảm từ 3,83 xuống 3,05 thửa/hộ.
- Quy hoạch đất đai chuyển dịch theo hướng giảm đất trồng lúa, tăng đất cây lâu năm và đất chuyên dùng phục vụ công nghiệp hóa.
- Thu nhập từ kinh tế trang trại tăng gần gấp đôi, góp phần nâng cao đời sống người dân.
- Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng lao động trong công nghiệp và dịch vụ.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ kỹ thuật, hoàn thiện chính sách và phát triển hạ tầng nhằm thúc đẩy phát triển bền vững.
Tiếp theo, cần triển khai các giải pháp đề xuất trong vòng 5 năm tới, đồng thời mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động DĐĐT ở các địa phương khác trong vùng ĐBSH. Các nhà quản lý, nghiên cứu và tổ chức liên quan được khuyến khích tham khảo và áp dụng kết quả nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai và phát triển kinh tế nông thôn.