mở đầu với tác phẩm "Những cơ cấu sơ đăng của hệ thân tộc". Sau đó lý thuyết này đã có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiêu lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. 13 Hệ thức (paradigme) của lý thuyết cơ cấu xã hội xác định mục đích nghiên cứu của nó là khám phá ra các cơ cau, sự vận hành và những qui luật nội tại của chúng; Chủ trương giải thích những biến đổi bằng các qui luật nội tại của các cơ cấu xã hội nhằm khám phá ra những mối liên hệ qua lại giữa các cơ cau và tính thống nhất của chúng. Một điều có ý nghĩa phương pháp luận là bất cứ một lý thuyết khoa học xã hội nào đều phải trải qua một quá trình suy nghĩ, phê phán đối với ngay cả những bậc tiền bối được thừa nhận nhiều nhất.
Tuy nhiên cũng không có một lý thuyết nào được xây dựng mà không có sự kế thừa những thành quả trí tuệ của quá khứ và đặt chúng vào những “dòng dõi lý thuyết” trong lịch sử. Nhà xã hội học người Pháp P. Bourdieu được xem là người có nhiều đóng góp vào sự phát triển lý thuyết về cơ cấu xã hội dưới tên gọi “lý thuyết hậu cơ cấu” có sự kế thừa những luận điểm khoa học của nhiều nhà khoa học như E. đặc biệt là C.
Mác dé xây dựng nên những luận điểm khoa học của mình, ví dụ như nguyên lý về tính khách quan của cái xã hội (le social). Luận thuyết của P.Bourdieu rất coi trọng mối quan hệ biện chứng giữa các tác nhân và cơ câu xã hội, không xem các tác nhân như những phản ánh đơn giản của các cơ cấu khách quan.Bourdieu nói rat rõ trong tác phẩm nổi tiếng "Nghề nghiệp của nhà xã hội học", "sự mô tả những thái độ, những ý kiến và những nguyện vọng cá nhân không thể đem lại nguyên lý giải thích những thái độ, những ý kiến và những nguyện vọng ấy" [Paris Mouton. Sự phat triển lý thuyết cơ cấu xã hội của P.Bourdieu theo quan điểm mác xít được xây dựng xung quanh ba khái niệm; hệ thống các quan điểm, tập tục (habitus) và tái sản xuất xã hội. Vấn đề đầu tiên lý thuyết cơ cấu xã hội đề cập đến là yêu cầu phải khôi phục lại các hệ thống liên hệ là điểm xuất phát của tất cả những phân tích và 14 ly giải.
Day không phải chi là khôi phục những "hiện tượng xã hội" và lại càng không phải chỉ là mô tả những mảnh lộn xộn của những ứng xử xã hội, mà chính là phải khám phá ra những liên hệ nào và hệ thống liên hệ nào tổ chức ra đối tượng nghiên cứu. Không phải bộ phận nào của xã hội cũng là đối tượng nhận thức ngang nhau và phải có một sự phê phán bước đầu dé xem đối tượng ấy có trở thành một hệ thống liên hệ có thê thăm dò được hay không? Do đó, phải xem lại khái nệm mo hồ "sự kiện xã hội" phân biệt những cái có thể được gọi là "đối tượng that" với những "đối tượng giả". Một đối tượng xã hội phải là một đối tượng cho thấy có một tập hợp những liên hệ nội tại, một hệ thống liên hệ và việc phân tích nó cho phép giải thích sự vận hành của nó. Như vậy, mục đích của sự nghiên cứu là khám phá lôgíc của hệ thống và đòi hỏi phải quy gọn các hiện tượng lại, đồng thời phải có một sự khám phá nhiều mặt.
Đề vạch rõ những mối quan hệ chăng chit trong hệ thống cơ cấu, không được chỉ tính đến những bằng chứng, những phán xét của những người có liên quan trong cơ cau xã hội, trái lại, phải giả định rằng những thái độ, những phán xét, những động cơ của những người hữu quan được quy định một phần lớn bởi cơ cấu và nói chính xác hơn, bởi vị trí đã nắm giữ trong hệ thống các cuong Vi. Do là một chủ dé căn bản của cách tiếp cận theo quan điểm của lý thuyết cơ cấu, theo đó hệ thống có thé giải thích từ một bộ phận của nó và có chú trọng nhiều tới bộ phận ấy. Thứ hai, theo những nguyên ly chung của M.Weber, nhận thức xã hội học là công việc xây dựng những quan hệ và những khái niệm di từ những hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp. Những nguyên lý chung ấy được áp dụng chặt chẽ vào việc đưa ra khái niệm "tập tục” trái với quan điểm của Strauss và Saussieu vê chủ nghĩa cơ câu được xem là máy móc, P.Bourdieu phê phán 15 quan điểm đó, cho rằng theo quan điểm đó, chính hệ thống cơ cấu áp đặt một cách máy móc những chuẩn mực ứng xử cho các cá nhân và các cá nhân này chỉ tái hiện ra cơ cấu mà thôi.
Do đó, không thể hiểu được những sáng tạo, những cách tân của các cá nhân xã hội. Vì vậy, van dé là phải giải thích tai sao những sự tập luyện xã hội tao ra và khắc sâu những phương thức cảm nhận và ứng xử ở các tác nhân xã hội. Các gia đình và các hệ thống giáo dục cũng góp phần vào điều đó cũng như những kinh nghiệm xã hội cũng góp phần quan trọng vào điều đó. Như vậy, người ta có thé cảm nhận thấy đã diễn ra "một sự hướng vào bên trong từ cái bên ngoài".
Những chủ thé nằm trong những điều kiện xã hội khác nhau, tuỳ theo thời điểm lịch sử và vị trí của họ trong một hệ thống cơ cấu xã hội nhất định. Như vậy, theo khái niệm của P.Bourdieu, tập tục là chỉ toàn bộ những tư thé đã đạt được, những sơ đồ cảm nhận, đánh giá và hành động do bối cảnh xã hội in sâu vào một thời điểm và một vị trí riêng biệt. Tập tục giữ vi tri trung gian giữa những liên hệ khách quan và những ứng xử cá nhân, nó vừa là điều kiện của những thói quen cá nhân. Do những điều kiện tập luyện và sự khắc sâu những sự tập luyện tương đối đồng nhất ở bên trong một gia cấp xã hội, nên trên thực té có thê xác định đặc trưng của một tập tục giai cấp, được khắc sâu bằng một hệ thống giáo dục phức hợp bao gồm gia đình, trường học và bối cảnh xã hội - tập tục giai cấp, như vậy, làm cho các tác nhân xã hội ứng xử phù hợp với những liên hệ khách quan giữa các giai cấp.
Khái niệm "tập tục xã hội" là một yếu t6 căn bản dé nhận thức và giải đáp vấn đề "tái sản xuất xã hội" theo quan điểm của P. Thứ ba, tái sản xuất xã hội, trước hết là tái sản xuất hệ thống liên hệ của các giai cấp được xác nhận bởi những dự kiến thống kê về sự phân phối những tài sản kinh tê và văn hoá. 16 Chủ nghĩa cơ cấu, khi nghiên cứu các xã hội gọi là truyền thống, thường có khuynh hướng xem các cơ cấu xã hội là bất biến, và không phải bao giờ cũng tìm hiểu toàn bộ những điều kiện đề ra những sự lặp di lặp lại đó. Sự phân tích của Marx đã đem lại lời giải đáp chung cho van đề tái sản xuất của hệ thống cơ cấu xã hội bao gồm các giai cấp, nhưng sự phân tích đó chủ yếu tập trung vào các quan hệ kinh tế và mối quan hệ có ý nghĩa quyết định nhất là sự chiếm hữu tư bản.
Sự đóng góp của P.Bourdieu là nhằm tới tat cả những kết quả của những sự kiện tái sản xuất văn hoá, đặc biệt chú trọng tới những chức năng của hệ thống trường học trong sự tái sản xuất ấy và trong sự phân biệt văn hoá. Về điểm này, P.Bourdieu đã đưa ra những khái niệm mới về tư bản. Thuật ngữ tư ban, theo định nghĩa truyền thống của từ này được dùng dé chỉ tư bản kinh tế, hoặc do thừa kế, hoặc có được do chiếm hữu tư bản kinh tế, nguyên nhân cơ bản tạo ra những vị trí giai cấp và tầng lớp khác nhau trong cơ cấu xã hội.Bourdieu đã dành phần chủ yếu trong các công trình nghiên cứu của ông cho sự phân tích hình thức thứ hai của tư bản, "tư bản văn hoá" dưới hai hình thức "tư bản học hành" được tiếp thu qua nhà trường và "tu bản văn hoá thừa kế" do gia đình truyền thụ. Một hình thức thứ ba của tư bản được phân tích là "tư bản xã hội" được xác định chủ yếu bằng toàn bộ những liên hệ xã hội mà nó đặc biệt có thể nam giữ do những nguồn gốc xã hội và sử dụng như một tư bản.
Thuật ngữ "tư ban" như vậy có những định nghĩa khác xa với từ vựng khoa học kinh tế và cho phép khám phá những xung đột thuộc loại kinh điển trong quan hệ giữa tổng thể các cơ cấu xã hội nói chung, cũng như trong từng cơ cau xã hội nói riêng. Vận dụng lý thuyết về cơ cấu xã hội có thể lý giải quá trình vận động và biến đôi của cơ cấu tổ chức Công đoàn trong những năm gần đây. Chi tính từ Đại hội VIII đến Đại hội IX Công đoàn Việt Nam, trong vòng 5 năm đã thấy 17 những van đề trong lý thuyết về cơ cấu xã hội đặt ra đó là "sự thay đối của một yếu tố hoặc một quan hệ, tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đôi của các yếu tố và quan hệ khác". Sự phát triển về cơ cấu tô chức Công đoàn cũng dẫn đến sự thay đổi về nội dung, phương pháp hoạt động.
Đúng như hệ thức lý thuyết xã hội do K.Marx đề ra về phân tích sự tiến hoá cách mạng của xã hội chính là do tiến hoá của các quan hệ xã hội. Từ đó ta thấy lý thuyết cơ cấu xã hội trong xã hội học có ý nghĩa cực kì quan trọng trong việc lý giải cơ cấu xã hội nói chung và từng cơ cấu của nhóm xã hội cụ thé trong đó có cơ cấu tô chức Công đoàn. Lý thuyết chức năng: Lý thuyết chức năng xem xét các hiện tượng xã hội với những chức năng mà chúng đảm nhiệm. Khái niệm chức năng xuất phát từ sự phát triển của sinh lý học gắn liền với tên tuổi của nhà bác học Claude Bernard với ý nghĩa, chức năng là phương thức hoạt động của các bộ phận trong cơ thể con người mà sự hoạt động phối hợp của chúng nhằm đảm bảo cho việc duy trì sự sống.
Khái niệm chức năng đã được vận dụng vao các môn khoa học xã hội trước hết trong mô hình chức năng của môn nhân học Ănglô - Sacxon với các nhà khoa học tiêu biểu Malinowski va Radcliffe — Brown.