Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu Chương 3: Thực trạng biến đổi cấu trúc gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay Chương 4: Một số yếu tố ảnh hưởng đến biến đổi cấu trúc gia đình trong bối cảnh già hóa dân số ở nông thôn đồng bằng sông Hồng. 15 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ngày nay, hướng nghiên cứu về gia đình và biến đổi cấu trúc gia đình vẫn là một chủ đề rất quan trọng và cần thiết ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam nói chung và khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng nói riêng. Những chiều cạnh biến đổi khác nhau của gia đình đặt trong bối cảnh già hóa dân số trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tâm lý…trong đó, xã hội học là một ngành khoa học đi đầu trong việc tiếp cận nghiên cứu và phổ biến các kết quả nghiên cứu về gia đình và biến đổi gia đình một cách rõ ràng. NGHIÊN CỨU VỀ BIẾN ĐỔI QUY MÔ, CẤU TRÚC GIA ĐÌNH TRÊN THẾ GIỚI, VIỆT NAM VÀ VÙNG NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG Trên khắp thế giới các gia đình đang thay đổi, sự thay đổi lớn nhất nằm ở việc thay đổi cấu trúc của gia đình.
Số lượng gia đình mở rộng giảm dần và số lượng gia đình cha mẹ đơn thân ngày càng tăng lên. Hiện tại, chỉ có 38% gia đình có cả bố mẹ sống với con ở mọi lứa tuổi; hộ gia đình đơn thân chiếm 8%, trong đó tỷ lệ phụ nữ sống cùng con chiếm tới 84% [2]. Các mô hình gia đình mới xuất hiện và ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong xã hội như mô hình gia đình chỉ có một thế hệ, hay gia đình chỉ có một người cũng đang tồn tại. Tỷ trọng mô hình gia đình hạt nhân hai thế hệ ngày càng tăng lên so với mô hình gia đình mở rộng nhiều thế hệ sống chung theo kiểu truyền thống [23].
Điều này được giải thích là do điều kiện kinh tế trong xã hội đã có nhiều thay đổi theo hướng ngày càng tốt hơn trước, đi kèm với sự thay đổi về kinh tế là các giá trị truyền thống cũng bị ảnh hưởng, nhiều giá trị mới trong đời sống xã hội 16 xuất hiện như tự do do cá nhân, quan niệm về hưởng thụ, sự khác biệt trong sinh hoạt hàng ngày… đã làm cho các đôi vợ chồng mới cưới hoặc sau vài năm tự tin tách ra khỏi gia đình bố mẹ để ở riêng. Như ở Nhật Bản, hộ gia đình hạt nhân ngày càng chiếm tỷ lệ cao, năm 2005 là 58,9%, đến năm 2015 tăng lên đến 87% và ở các đô thị lớn như Tokyo, Osaka tỷ lệ lên đến 90% [49]. Tại Pháp, các cuộc tổng điều tra dân số cho thấy, quy mô hộ trung bình đã giảm một cách đều đặn, có ít các hộ gia đình hỗn hợp hơn (gồm cả các thành viên khác không phải cha mẹ và con cái của họ) và nhiều hộ chỉ gồm một và hai người. Xu hướng này không chỉ diễn ra ở riêng nước Pháp mà là xu hướng chung của các nước châu Âu, nó cho thấy sự thay đổi này có ảnh hưởng mạnh liên quan tới hành vi gia đình như: rời khỏi gia đình (1970); hình thành quan hệ sống chung 1970, 1960); sinh con (1960); chia tay (1970, 1980 và những năm gần đây); đứa con trưởng thành tách khỏi gia đình; góa bụa và biến đổi cơ cấu dân số, đặc biệt là sự gia tăng của người lớn tuổi, sống một mình đã góp phần làm giảm quy mô gia đình trong những năm gần đây.
Ngoài ra, một lý do quan trọng khác làm cho quy mô gia đình thay đổi đó là sự gia tăng của các cặp vợ chồng lớn tuổi do tỷ lệ tử vong giảm. Tỷ lệ người sống một mình gia tăng mạnh và có sự khác biệt theo giới tính, nhiều đàn ông lớn tuổi sống một mình sau khi ly hôn bởi vì trong nhiều trường hợp phụ nữ sống với con như mẹ đơn thân; nhiều phụ nữ lớn tuổi sống một mình sau khi chồng mất (do tuổi thọ phụ nữ cao hơn nam giới) [86]. Một yếu tố quan trọng khác làm cho cấu trúc gia đình thay đổi đó là tỷ lệ sinh thấp. Tỷ lệ sinh đang giảm trên quy mô toàn cầu, bao gồm cả những trường hợp ngoài ý muốn hay tự nguyện.
Tại Mỹ, số trẻ sinh ra trong năm 17 2018 đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng ba thập kỷ qua. Xu hướng giảm này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 và 2008, nhưng vẫn không thể tăng lên ngay cả khi Mỹ đã phục hồi nền kinh tế. Các ca sinh ở Mỹ đã giảm xuống mức thấp kỷ lục trong nhiều thập kỷ qua, tỷ lệ phụ nữ sinh con trong độ tuổi sinh nở đã giảm xuống còn 1,76 ca sinh mỗi phụ nữ vào năm 2017, giảm so với tỷ lệ 1,82 vào năm 2016. Tỷ lệ sinh ở Mỹ giảm mạnh nhưng vẫn cao hơn so với các nước như Ý (1,4), Đức (1,5) và Nhật Bản (1,4).
Ở châu Âu, chỉ có Pháp là nước có tỷ lệ sinh ở gần mức sinh thay thế là 2,0. Theo tính toán, tỷ lệ sinh tối ưu để duy trì dân số là 2,1 [146]. Các nước Đông Á cũng đang vật lộn với thực trạng tỷ lệ sinh giảm khi ghi nhận mức thấp kỷ lục ở nhiều quốc gia. Tại Singapore, số trẻ sinh trong năm 2018 thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây.
Tại Hàn Quốc, tỷ lệ sinh giảm xuống còn 0,98 vào năm 2018 (năm 2017 là 1,05), thấp kỷ lục và nằm trong số những nước thấp nhất thế giới. Đây là lần đầu tiên con số này giảm xuống dưới mức trung bình kể từ khi bắt đầu thu thập dữ liệu vào năm 1970 [149]. Tại Trung Quốc, số liệu của chính phủ cho thấy, tỷ lệ sinh trong năm 2018 đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ khi nới lỏng chính sách một con vào năm 2014. Tương tự, Nhật Bản đã ghi nhận tỷ lệ sinh thấp nhất từ trước đến nay.
Chính phủ hiện phải đối mặt với việc phải đưa ra các biện pháp hiệu quả hơn để đạt được mục tiêu tỷ lệ sinh vào cuối năm 2025 và duy trì dân số ở mức khoảng 100 triệu vào năm 2060 [145]. Tại Hồng Kông, số liệu từ Bộ Y tế cho thấy, tỷ lệ sinh đã giảm 78% từ năm 1961 đến 2017. Tỷ lệ sinh của thành phố này luôn thấp hơn tỷ lệ thay thế 2,1 con/phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trong 36 năm qua và chỉ đạt ở mức 1,1 18 trong năm 2017 [147]. Nhìn chung, xu hướng biến đổi cấu trúc gia đình của các nước trên thế giới trong thời gian qua là thu hẹp về quy mô, gia đình mở rộng gần như biến mất, thay thế cho nó là các mô hình gia đình nhỏ như mô hình gia đình hạt nhân, gia đình đơn thân., cùng với đó là xu hướng giảm mạnh tỷ lệ sinh.
Đối với Việt Nam đang trong giai đoạn thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước cũng như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã làm cho gia đình có sự biến đổi lớn nhất từ trước đến nay. Xu hướng biến đổi cấu trúc gia đình Việt Nam trong thời gian gần đây là thu nhỏ về quy mô và hạt nhân hóa nhằm phù hợp với xu hướng của hiện đại hóa. Điều này phản ảnh đúng quy luật phát triển của gia đình trên thế giới hiện nay, tuy nhiên, tốc độ của sự biến đổi diễn ra không giống nhau ở từng thành phần của cấu trúc gia đình [114]. Quy mô gia đình Việt Nam thời gian qua chứng kiến nhiều biến động đa dạng.
Số liệu của các cuộc tổng điều tra dân số cho thấy, trong mấy thập kỷ vừa qua, bình quân nhân khẩu một hộ gia đình từ 5,2 người năm 1979, giảm xuống 4,8 năm 1989, xuống mức 3,8 năm 2009 và chỉ còn 3,6 người/hộ năm 2019. Số nhân khẩu trong gia đình có nhiều biến động và có xu hướng giảm dần theo từng thập kỷ. Do vậy, quy mô gia đình Việt Nam có xu hướng không ngừng thu nhỏ, đồng thời cấu trúc của gia đình cũng ngày càng đơn giản hơn theo hướng hạt nhân hóa (gia đình chỉ gồm vợ chồng và các con chưa trưởng thành) [66]. Bên cạnh đó, dân số Việt Nam đã có những biến động mạnh mẽ về cơ cấu tuổi.
Kết quả từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở cho thấy, tổng tỷ suất sinh (TFR) năm 2019 là 2,09 con/phụ nữ, bằng mức sinh thay thế. Điều này 19 cho thấy Việt Nam vẫn duy trì mức sinh ổn định trong hơn một thập kỷ qua, xu hướng sinh hai con ở Việt Nam là phổ biến đúng với tinh thần trong Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu, Khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác dân số trong tình hình mới: “Công tác tuyên truyền, giáo dục, nhận thức về dân số và kế hoạch hóa gia đình của các cấp, các ngành và toàn dân có bước đột phá. Mỗi cặp vợ chồng có 2 con đã trở thành chuẩnn mực, lan tỏa, thấm sâu trong toàn xã hội”. Kết quả số liệu về TFR giai đoạn 2001 - 2019 của Việt Nam có xu hướng giảm đều qua các năm, từ 2,25 con/phụ nữ năm 2001 xuống 1,99 con/phụ nữ năm 2011; giai đoạn 2012 - 2019, đạt bằng hoặc dưới mức sinh thay thế (dao động từ 2,04 đến 2,10 con/phụ nữ) (Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019).
Trong khi đó, tỷ suất chết thô (CDR) năm 2019 của cả nước là 6,3 người chết/1000 dân (thành thị là 5,1 người chết/1000 dân, nông thôn 6,9 người chết/1000 dân). CDR năm 2019 thấp hơn so với năm 2009 (6,8) và cao hơn năm 1999 (5,6). CDR tăng lên không có nghĩa là Việt Nam đang phải đối mặt với những vấn đề về chăm sóc sức khỏe, dịch bệnh hay chiến tranh, thiên tai mà nguyên nhân ở đây chủ yếu là do thay đổi về cơ cấu tuổi của dân số. Kết quả Tổng điều tra năm 2019 cho thấy, tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên (nhóm có tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi cao) tăng 1,3 điểm phần trăm trong vòng 10 năm qua (năm 2009 là 6,4%, năm 2019 là 7,7%) đã làm CDR của Việt Nam tăng nhẹ.
Tốc độ tăng dân số giảm từ mức trung bình 2,4%/năm giai đoạn 1979 - 1989 xuống mức 1,7% giai đoạn 1989 - 1999, 1,2% giai đoạn 1999 - 2009 và 1,14%/năm giai đoạn 2009 - 2019.