CHƯƠNG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. SO LUQC VE CAY LAC Chi Lac (Arachis) li một chỉ của phân họ đậu (Faboideae) với khoảng 70 loài thực vật có hoa sống một năm hoặc lâu năm và có nguồn gốc từ khu vực Trung và Nam Mỹ. Đậu phông (cây lạc) là cây thân thảo đứng, sống hằng ni: ~ Thân cây lạc: thân phân nhánh từ gốc, có các cành tỏa ra, cao 30-100 cm tùy theo giống và điều kiện trồng trọt. ~ Rễ cây lạc: rễ cọc, có nhiều rẻ phụ, rẻ cộng sinh với vi khuẩn tạo thành nốt sần.
~ Lá cây lạc: lá kép mọc đối, kép hình lông chim với bốn lá chét, kích thước lá chết dài 4-7 cm và rộng I-3 em. Lá kèm 2, làm thành bẹ bao quanh thân, hình dải nhọn. - Hoa cây lạc: cụm hoa chùm ở nách, gồm 2-4 hoa nhỏ, màu vàng. Dạng hoa đậu điển hình màu vàng có điểm gân đỏ, cuống hoa dài 2-4 cm.
~ Quả (củ) lạc: sau khi thụ phấn, cuống hoa dài ra, lâm cho nó uốn cong cho đến khi quả chạm mặt đắt, phát triển thành một dạng quả đậu (củ) trong đất dài 3- 7 em, mỗi quả chứa 1-4 hạt và thường có 2 hạt. Quả hình trụ thuôn, không chia đôi, thon lại giữa các hạt, có vân mạng. ~ Hạt lạc: quả chứa từ 1 đến 4 hạt, thường là 2 hạt, hạt hình trứng, có rãnh dọc. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TREN THE GIỚI VÀ VIỆT NAM VỀ CÁC BỆNH HẠI CÂY LẠC 1.
Cơ sở khoa học của nghiên cứu thành phần bệnh hai lac do vi nam và vi khuẩn héo xanh Như nhiều loại cây trồng khác,cây lạc bị nhiều loại vi sinh vật gây hại, vi sinh vật gây hại xâm nhập vào cây và giữa chúng hình thành mối quan hệ ký sinh-ký chủ giữa loài gây hại và cây trồng. Vi sinh vật xâm nhập vào cây và chúng gây nên rối loạn sinh lý ở cây làm cây bị huỷ hại từng phần hoặc gây nên ảnh hưởng lên toàn cây làm cây giảm năng suất hoặc cây chết không cho thu hoạch. Những vi sinh vật gây hại sống dưới đất thường xâm nhập vào cây gây nên triệu chứng héo, hiện tượng chết héo lạc do nhiều loại vi sinh vật gây nên. Trong nhóm vi sinh vật gây bệnh chết héo thường gặp do vi khuẩn héo xanh (Raltonia solanacearum) gây ra.
Bệnh héo xanh do vi khuẩn gây ra rất phổ biến ở các nước trồng lạc trên thế giới và gây thiệt hại rất nghiêm trọng. Bệnh héo xanh có mặt hầu hết các khu vực, ở đâu có trồng các cây thuộc họ cả (Sofanaceae) như: cà chua, cà, khoai tây, thuốc lá. lạc là người ta tìm thấy sự có mặt vi khuẩn (R. Mức độ gây hại của chúng rất nguy hiểm.
Tỷ lệ bệnh cao nhất hại lạc có thê đến 90% (Machmuch1986,1992). Cùng vớ nh héo xanh vi khuan nh nắm phổ biến gây hại nghiêm trọng tới năng suất và phâm chất lạc. Nguồn bệnh gây hại chủ yếu có sẵn trong hạt, trong đất do vậy việc phòng trừ hết sức khó khăn. Nim Aspergillus flavus trén lac có thể sản sinh.
độc tố 4ƒlaoxin gây độc cho người và gia súc. Bệnh hại lạc đã được nghiên cứu từ những ngày đầu của sản xuất lạc thương phẩm. Khi cây lạc trở nên có tầm quan trọng. trong nền nông nghiệp thế giới, từ việc đầu tư tối thiểu đến tăng đầu tư dễ tăng năng.
suất và chất lượng hạt. Khi giá tri đem lại từ cây lạc lên cao thì sản xuất cũng được. nâng lên vì thế cả bệnh cũ và có nhiều bệnh mới xuất hién trén lac (Porter DH va Smith DH, 1989). Sự phát phiển và mức độ phỏ biến của bệnh chính hại lạc phụ thuộc vào.
tương tác ký chủ và vi sinh vật gây bệnh với môi trường. Do đó việc tìm những biện pháp nhằm hạn chế tác hại của bệnh đối với lạc là rất quan trọng. Rất nhiều nhà nông học cho rằng tính nhiễm bệnh của cây trồng tăng lên là vì chúng bị suy yếu do kết quả thiếu các nguyên tố dinh dưỡng khoáng trong đất. Trong thời gian gần đây nhiều nghiên cứu đã cho thấy độ màu mỡ của đất rõ ràng có ảnh hưởng đến mức phô biến của bệnh cây nhưng chỉ là một trong nhiều yếu tố quyết định mức độ nhiễm bệnh của cây đối với nắm và vi khuẩn [14].
Trong đất trồng trọt có sự cân bằng nhất định giữa vi sinh vật sống phụ sinh (hoại sinh) và vi sinh vật sống ký sinh. Qua quá trình trồng trọt liên tục một số cây trồng, trạng thái cân bằng bị phá vỡ và một thời gian dài đất bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh. Quan hệ giữa các vi sinh vật trong đắt rất phức tạp, trong đó mật độ quần lac vi sinh vat gây bệnh cây ở những điều kiện tương ứng có thể tăng lên hay ngược. Trong trường hợp này quan hệ cạnh tranh giữa các vi sinh vật về thức ăn, phản ứng của đất, thế năng oxi hoá khử của nó và sự có mặt của các chất đặc biệt nhất là chất kháng sinh do vi sinh vat hoaj sinh tiét ra giữ một vai trò quan trọng.
Riinmuth E(1998) cho biết là bằng những biện pháp kỹ thuật nông nghiệp nhất định có thê trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên ký sinh và một phần làm yếu khả năng gây bệnh của chúng đối với ký chủ, hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật đối kháng với chúng. Ngoài ra, phân đạm bón dưới dang v6 cơ sẽ thúc đầy quá trình xâm nhập của nấm vào mô tế bào ký chủ. 1998, vật chất hữu cơ (Glucoza) kéo dài giai đoạn hoại sinh của nấm và làm giảm bệnh. Phân hữu cơ, phân chuồng, phân xanh làm tăng hàm lượng mùn trong đất và làm thay đôi tính chất hoá lý của đất, tăng khả năntg hút các các chất dinh dưỡng trong đất của cây.
Phân hữu cơ tác động trực tiếp lên vi sinh vật gây bệnh lan truyền qua đất bằng cách thay đổi quần lạc nông sinh, Luong min trong dat lam tng khả năng giữ nước, cải thiện cấu trúc và hạn chế xói mòn của dat. Theo Snyder WC và cs đã cho thấy nếu bón vào đất tàn dư thực vật với tỷ số C: N khá rộng làm cho đậu tương giảm bệnh do nấm Fusarium solani phaseoli, Rhizoctonia solani [23], Theo Reinmuth E,Boechow H (1960) đã xác định là bón vào đất một lượng nhiều phân ủ là giảm bệnh cây trồng do nắm Pythium. So dĩ như vậy là vì khi lượng chất hữu cơ trong đất tăng lên thì vi sinh vật đất có tác dụng kìm hãm lên nắm Pythium cũng tăng lên [16]. Theo Garren va Niemann E (1995) cho biết bào tử nấm T:comroversa chết hàng loạt trong khoảng thời gian 6 tháng dưới tác dộng tích cực của các vi sinh vật đối kháng do lượng phân chuồng cao gây ra [14].
Do đó việc áp dụng phân bón hợp lý và sử dụng phân chuồng cho lạc là hết sức cần thiết hạn chế bệnh hại và tăng năng suất lạc. Không khí bao quanh cây trồng chính là các điều kiện khí tượng bao. ò hiểu sáng, nhiệt độ, mưa, bức xạ, độ bốc hơi nước và áp lực không khí. Mỗi yếu tố đều ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh cây nhưng quan trọng.
ing nhất và có ý nghĩa giới hạn là nhiệt độ và m độ từ đó cần nghiên cứu kỹ thuật để giảm bệnh hại. Bên cạnh kỹ thuật canh tác, thuốc hoá học, chăm sóc, việc sử dụng giống kháng bệnh cũng hết sức có ý nghĩa trong phòng chống bệnh hại. Do đó nghiên cứu bệnh hại chính và tìm ra biện pháp phỏng trừ tổng hợp có hiệu quả là việc làm hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu những bệnh chính hại lạc và tìm ra biện pháp phòng trừ tổng hợp có hiệu quả nhằm hạn chế bệnh hại cho mội số xã thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Tình hình nghiên cứu bệnh hại lạc trong và ngoài nước a. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài. * Bệnh mốc vàng Bệnh mốc vàng do nam Aspergillus flavus gay ra. flavus ton tại trên hạt lạc, trong đất và trong không khí.
Nắm xâm nhiễm và phát triển sớm hơn trên lạc giai đoạn còn non, trên quả lạc và hạt lạc trong đất trong giai đoạn thu hoạch và bảo quản [22] [24]. Hội chứng độc 4/laroxin do 4spergillus ƒÏavus sản sinh ra đã được tìm thấy đầu tiên ở Anh vào năm 1960 trên gà tây con. Nó được đặc trưng ở chỗ con vật bị chết nhanh chóng bằng sự tồn thương ở gan. Người ta đã ghỉ nhận được thành phần độc tổ là Bị, Ba, Gì, Gà.
Độc tố 4/fafoxin do4./Ïavus sản sinh ra có tính ổn định cao đối với tác dụng của các yếu tổ vật lý và hoá học khác nhau. Vì vậy việc loại bỏ hay. huỷ hoại độc tố trong các thực phẩm là việc làm hết sức khó khăn. Nhiệt độ cao, tia gama, tia tir ngoai hay tăng độ axit,độ kiềm đều không đem lại hiệu quả[ 13].
Do đó 'bệnh mốc vàng là bệnh được tất cả các nước trồng lạc quan tâm cũng như các nước tiêu thụ. Nam Aspergillus flavus gây bệnh mốc vàng có thể sinh trưởng ở trong khoảng nhiệt độ từ 17- 42°C .Tuy nhiên nhiệt độ cho nắm phát triển tốt nhất là 25- 35°C và độ âm thấp. Nấm sẽ phát triển trên quả và hạt lạc nhanh chóng trong điều kiện khô. Song độ ẩm của hạt lạc từ 7- 9% lại không thích hợp cho sự xâm nhiễm và phát triển của 4,/iavws (Goldblast LA.
Lạc sau khi thu hoạch càng để lâu độ nhiém A flavus cing ting (Harold E, Clyde T, 1992)[31]. Biện pháp phòng trừ: nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh mốc vàng, Dicken JW (1997) da chi ra rằng: lạc trồng sớm để có độ âm thích hợp cho cây lạc sinh trưởng tránh thời kỳ khô hạn và sâu hại trong mùa gieo trồng sẽ có tác dụng hạn chế sự xâm nhiễm của 4,/iavus ; Trồng những giống lạc chống chịu với bệnh thối quả, tuyến trùng, sâu hại và những nấm sản sinh độc tố khác; áp dụng biện pháp luân canh cây trồng, sử dụng phân bón thích hợp để giảm sự gây hại của vi sinh vật truyền qua đất. Thu hoạch kịp thời khi đa số quả lạc vừa tới độ chín, phơi lac đạt độ ẩm 8- 9% để hạn chế sự xâm nhập và phắt triển của nấm ở hạt lạc trong thời gian bảo quản. Tại Viện Nghiên Cứu cây trồng cạn quốc tế coi biện pháp lai tạo giống kháng với nấm A/flavus 1a chién luge quan trọng trong phòng chống sự nhiễm Aflatoxin trên lạc (Mehan VK, Donal MC, 1984)[45].
Biện pháp này đã được áp dụng ở nhiều nước trên thể giới. * Bộnh thối đen cổ rễ hay gọi là thối vòng.