Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chăn nuôi lợn thâm canh quy mô trang trại, đàn lợn nái giữ vai trò quyết định đến năng suất, số lượng và chất lượng con giống thương phẩm. Việc phát triển chăn nuôi tập trung với mật độ cao thường đi đôi với áp lực dịch bệnh gia tăng, đặc biệt là các chứng bệnh sản khoa trên đường sinh sản của lợn nái như viêm tử cung và viêm vú. Những bệnh lý này làm suy giảm tiết sữa, giảm khối lượng sơ sinh và tỷ lệ sống của lợn con, kéo dài thời gian chờ phối, thậm chí gây mất khả năng sinh sản dẫn đến loại thải đàn sớm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả kinh tế của cơ sở chăn nuôi.

Trại lợn Lăng Trung Kiên được xây dựng tại xã Khánh Long, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (cách thị trấn Thất Khê khoảng 20 km về phía Đông Bắc). Đây là trang trại chăn nuôi tư nhân kết hợp nông lâm thủy sản, với chức năng chính là sản xuất lợn giống cung cấp cho các trại lợn thịt của công ty và thị trường địa phương. Cơ sở này nằm tại vùng núi cao, chịu ảnh hưởng của thời tiết tiểu vùng khí hậu Đông Bắc Bộ với biến động nhiệt độ lớn giữa các mùa và độ ẩm cao. Đồng thời, trại còn hạn chế về lực lượng cán bộ kỹ thuật chuyên môn cao. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài được thực hiện nhằm giải quyết 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái đã sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng.
  2. Xác định được hiệu quả một số phác đồ điều trị bệnh sinh sản, từ đó chọn ra được phác đồ điều trị hiệu quả nhất.
  3. Khuyến cáo một số biện pháp phòng bệnh tích cực để phòng bệnh sinh sản cho lợn nái sau đẻ.
  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản gồm các giống ngoại Yorkshire, Landrace và giống nội Móng Cái nuôi tại trại.
  • Phạm vi không gian: Trại lợn Lăng Trung Kiên, xã Khánh Long, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình theo dõi và thu thập số liệu thực địa diễn ra liên tục từ ngày 03/06/2013 đến ngày 18/11/2013 (thời gian thực tập 5 tháng).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và dược lý ứng dụng

Cơ sở khoa học của nghiên cứu dựa trên các kiến thức giải phẫu, sinh lý sinh sản lợn nái và cơ chế bệnh học thú y:

  • Đặc điểm giải phẫu và sinh lý sinh sản: Lợn nái là động vật đa thai, có tử cung dạng hai sừng dài trên 1 m, gấp nếp để mang nhiều phôi thai; âm đạo dài 10–12 cm. Chu kỳ động dục trung bình 19–21 ngày; thời gian động dục kéo dài 3–4 ngày (lợn nội) hoặc 4–5 ngày (lợn lai, lợn ngoại); thời gian mang thai trung bình 114 ngày (113–115 ngày).
  • Cơ chế bệnh học viêm tử cung: Thường xảy ra 1–10 ngày sau khi đẻ hoặc sau khi phối giống. Tác nhân gây bệnh chủ yếu là các vi khuẩn cơ hội xâm nhập khi cổ tử cung mở hoặc niêm mạc bị tổn thương: Streptococcus (34,5%), Escherichia coli (26,7%), Proteus vulgaris (16,0%), Staphylococcus (11,2%), Klebsiella (10,2%). Bệnh biểu hiện qua 3 thể lâm sàng: thể nhẹ (viêm nhờn, dịch tiết trắng đục hoặc xanh, sốt nhẹ 39–39,5°C), thể vừa (viêm mủ, dịch vàng xanh sệt hôi thối, sốt 39,5–40°C), thể nặng (viêm mủ hoại tử, dịch bã đậu lẫn máu, sốt trên 40°C, ảnh hưởng nặng đến lượng sữa).
  • Cơ chế bệnh học viêm vú: Xảy ra từ 4–5 giờ đến 7–10 ngày sau khi đẻ. Nguyên nhân do không giảm khẩu phần thức ăn giàu đạm trước đẻ dẫn đến ứ đọng sữa, lợn con không bú hết, răng nanh lợn con gây trầy xước đầu vú, hoặc chuồng trại nhiễm bẩn. Các vi khuẩn phân lập phổ biến gồm Streptococcus, Staphylococcus, E. coli, Klebsiella spp. Bệnh chia thành các thể: thanh dịch, cata, fibrin, cata có mủ, áp xe, phlegmon và thể có màu.
  • Dược lý thuốc thử nghiệm trong nghiên cứu:
    • VETRIMOXIN.A (Pháp): Thành phần chứa 150 mg Amoxycillin (dạng trihydrate) trong 1 ml dung dịch. Là kháng sinh nhóm β-lactam diệt khuẩn trên cả Gram âm và Gram dương (E. coli, Salmonella, Streptococcus, Staphylococcus...), phân bố nhanh vào các mô và có hiệu lực kéo dài 48 giờ.
    • MD PENI STREP (Công ty Minh Dũng): Kết hợp giữa Procaine Penicillin G (diệt vi khuẩn Gram dương, duy trì nồng độ 24–48 giờ) và Streptomycin Sulphate (kháng sinh nhóm Aminoglycosid, diệt khuẩn Gram âm).
    • Thuốc bổ trợ và sát trùng tại chỗ: Dung dịch thuốc tím KMnO4 0,1% để thụt rửa cơ học và sát trùng niêm mạc tử cung; đá lạnh chườm giảm đau tuyến vú; Oxytocin kích thích co bóp cơ trơn tử cung; Vitamin B1, ADE-Bcomplex và Analgin để trợ lực, hạ sốt, nâng cao thể trạng.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp điều tra dịch tễ và cơ cấu đàn: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ sổ sách lưu trữ của trại về số lượng nái hậu bị, nái kiểm định và nái cơ bản trong giai đoạn 2011 – 2013.
  • Phương pháp theo dõi lâm sàng: Trực tiếp thăm khám toàn bộ 150 lợn nái hàng ngày. Đánh giá viêm tử cung bằng quan sát dịch rỉ viêm ở âm môn, vùng mông, đuôi kết hợp dùng mỏ vịt và đèn pin soi kiểm tra cổ tử cung. Chẩn đoán viêm vú qua sờ nắn bầu vú (độ cứng, nhiệt độ), đo thân nhiệt bằng nhiệt kế và quan sát trạng thái bú của lợn con.
  • Phương pháp phân lô so sánh đánh giá phác đồ điều trị:
Bệnh lý Hạng mục Phác đồ 1 Phác đồ 2
Viêm tử cung Điều trị cục bộ Thụt rửa tử cung bằng dung dịch KMnO4 0,1% (1–2 lần/ngày, 2–4 lít/lần, liên tục 3 ngày) Thụt rửa tử cung bằng dung dịch KMnO4 0,1% (1–2 lần/ngày, 2–4 lít/lần, liên tục 3 ngày)
Điều trị toàn thân Tiêm bắp VETRIMOXIN.A liều 1 ml/10 kg TT, tiêm nhắc lại sau 48 giờ Tiêm bắp MD PENI STREP liều 1 ml/10 kg TT, tiêm nhắc lại sau 24 giờ; phối hợp Vitamin B1 (1 ml/5–10 kg TT) và ADE-Bcomplex (1 ml/10 kg TT)
Viêm vú Điều trị cục bộ Chườm nước đá lạnh 1–2 lần/ngày, vắt cạn sữa ở bầu vú viêm 2–3 lần/ngày Chườm nước đá lạnh 1–2 lần/ngày, vắt cạn sữa ở bầu vú viêm 2–3 lần/ngày
Điều trị toàn thân Tiêm bắp VETRIMOXIN.A liều 1 ml/10 kg TT, tiêm nhắc lại sau 48 giờ Tiêm bắp MD PENI STREP liều 1 ml/10 kg TT, tiêm nhắc lại sau 24 giờ; phối hợp Analgin (1 ml/7–10 kg TT) và ADE-Bcomplex (1 ml/10 kg TT)
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán tỷ lệ phần trăm (%), thời gian điều trị trung bình, tỷ lệ khỏi bệnh, tỷ lệ phối đạt và thời gian động dục trở lại. Các tham số thống kê sinh vật học được xử lý theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện (2002) gồm số trung bình mẫu ($\bar{X}$), độ lệch tiêu chuẩn ($S_x$) và sai số của số trung bình ($m_x$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

Tác giả đã trực tiếp tham gia và đánh giá toàn diện các quy trình kỹ thuật chăn nuôi tại Trại lợn Lăng Trung Kiên:

  • Cơ sở hạ tầng và quy mô: Tổng diện tích trại là 40.657 m² (đất xây dựng chuồng trại 22.234 m², đất trồng trọt 14.000 m², mặt nước thủy sản 10.122 m²). Cơ cấu nhân sự gồm 19 người (5 lao động gián tiếp, 14 lao động trực tiếp gồm 1 kỹ sư và 13 công nhân). Khu chuồng nái nuôi con gồm 4 dãy, mỗi dãy 18 ô (2,4 m × 1,6 m/ô) sử dụng sàn nhựa và núm uống tự động; chuồng mang thai gồm 214 ô (2,4 m × 0,65 m/ô) sàn bê tông; chuồng hậu bị gồm 3 dãy với 10 ô/dãy, mật độ 8 con/ô.
  • Kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc:
    • Nái chửa kỳ I (ngày 1–84): Cung cấp thức ăn đảm bảo 13% protein thô và 2.800 kcal năng lượng trao đổi (NLTĐ)/kg thức ăn nhằm duy trì cơ thể và nuôi phôi.
    • Nái chửa kỳ II (ngày 85 đến khi đẻ): Cung cấp thức ăn đảm bảo 15% protein thô và 3.000 kcal NLTĐ/kg thức ăn để phát triển nhanh khối lượng thai.
    • Nái nuôi con: Ngày đẻ cho nhịn ăn, uống nước tự do có điện giải; từ ngày 1 đến ngày 4 tăng dần khẩu phần từ 1 kg đến 4 kg/ngày; từ ngày thứ 7 đến cai sữa áp dụng công thức: $\text{Lượng thức ăn (kg/ngày)} = 2 + (0{,}3 \times \text{số con theo mẹ})$.
    • Đỡ đẻ và chăm sóc lợn con: Lau khô theo thứ tự mũi – miệng – mình – bốn chân, bôi bột sát trùng Mistral, thắt và cắt rốn cách cuống 3 cm, úm nhiệt dưới đèn hồng ngoại, bấm nanh, cố định đầu vú cho lợn con bú ngay sau sinh và tập ăn sớm từ 4–5 ngày tuổi.
  • Vệ sinh thú y và phòng bệnh: Thực hiện phun khử trùng bằng Omnicide, rải vôi bột khử khuẩn lối đi và vệ sinh ngâm rửa sàn chuồng. Quy trình tiêm phòng vaccine cho đàn lợn con và lợn nái được triển khai định kỳ:
Đối tượng Thời điểm tiêm phòng Loại vaccine sử dụng
Lợn con 15–21 ngày tuổi Vaccine Dịch tả lợn (mũi 1)
70 ngày tuổi Vaccine Dịch tả lợn (mũi 2)
Lợn nái 7 tuần trước khi đẻ Vaccine Dịch tả lợn
5 tuần trước khi đẻ Vaccine Lở mồm long móng (LMLM)
Định kỳ tháng 3, 7, 11 Vaccine Giả dại
Định kỳ tháng 4, 8, 12 Vaccine Tai xanh (PRRS)
  • Kết quả thực hiện công tác phục vụ sản xuất:
Nội dung công việc Số lượng thực hiện (con) Kết quả đạt được (con) Tỷ lệ thành công (%)
1. Công tác tiêm phòng vaccine (An toàn)
Vaccine Dịch tả lợn 70 70 100,00
Vaccine Tai xanh 95 95 100,00
Vaccine Giả dại 142 142 100,00
Vaccine Lở mồm long móng 53 53 100,00
2. Công tác điều trị bệnh (Khỏi bệnh)
Bệnh lợn con phân trắng 600 582 97,00
Tiêu chảy lợn con sau cai sữa 537 400 74,00
Tiêu chảy lợn mẹ 12 12 100,00
Bệnh viêm tử cung 16 16 100,00
Bệnh ghẻ ký sinh trùng 8 8 100,00
Bệnh viêm vú 9 9 100,00
Bệnh viêm khớp 18 14 77,77
3. Các thao tác kỹ thuật khác (An toàn)
Trực và can thiệp đỡ đẻ 40 39 97,50
Tiêm sắt cho lợn con sơ sinh 529 529 100,00
Thiến lợn đực 16 16 100,00
Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái 30 30 100,00
Mổ thoát vị (hecni) 6 6 100,00

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Chuyên đề tập trung phân tích số liệu biến động đàn và kết quả theo dõi dịch tễ hai bệnh lý sinh sản chính:

  • Biến động số lượng và cơ cấu đàn nái (2011 – 10/2013):
Phân loại nái Năm 2011 (con) Năm 2012 (con) Tháng 10/2013 (con) So sánh 2013/2011 (%)
Nái hậu bị 20 22 38 190,00
Nái kiểm định 15 18 50 333,33
Nái cơ bản 40 69 62 155,00
Tổng cộng đàn nái 75 109 150 200,00

Quy mô tổng đàn nái tăng gấp đôi sau 3 năm. Trại tập trung tăng mạnh nhóm nái kiểm định (tăng 333,33%) và nái hậu bị (tăng 190,00%) nhằm nâng cao áp lực chọn lọc, thay thế và hoàn thiện chất lượng đàn nái cơ bản.

  • Tình hình mắc bệnh viêm tử cung và viêm vú chung toàn đàn: Trên tổng số 150 lợn nái được theo dõi trong 5 tháng, có 16 con mắc bệnh viêm tử cung (chiếm 10,60%) và 9 con mắc bệnh viêm vú (chiếm 6,00%). Cả hai bệnh đều không ghi nhận trường hợp nào bị chết (tỷ lệ chết 0%). Tác giả xác định nguyên nhân mắc viêm tử cung cao là do kỹ thuật can thiệp trợ sản bằng tay khi đẻ khó chưa đảm bảo vô trùng, dẫn tinh viên gây trầy xước niêm mạc tử cung khi thụ tinh nhân tạo, và ảnh hưởng của thời tiết vùng cao. Tỷ lệ viêm vú thấp hơn nhờ thực hiện tốt khâu lau rửa bầu vú bằng nước sát trùng trước và sau khi đẻ.
  • Tình hình mắc bệnh sinh sản theo giống lợn:
Giống lợn Số nái theo dõi (con) Bệnh viêm tử cung Bệnh viêm vú Tổng số mắc bệnh
Số con (con) Tỷ lệ (%) Số con (con) Tỷ lệ (%) Số con (con) Tỷ lệ (%)
Yorkshire 65 9 13,85 6 9,23 15 23,08
Landrace 57 7 12,28 3 5,26 10 17,54
Móng Cái 28 0 0,00 0 0,00 0 0,00

Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tính cảm nhiễm bệnh theo giống: Giống lợn ngoại Yorkshire có tỷ lệ mắc cao nhất (23,08%), tiếp đến là Landrace (17,54%). Ngược lại, giống lợn nội Móng Cái không ghi nhận cá thể nào mắc bệnh (0,00%), khẳng định ưu thế về sức đề kháng tự nhiên và khả năng thích nghi tốt với điều kiện môi trường địa phương.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính dựa trên số liệu văn bản

  1. Khảo sát quy mô và năng suất đàn: Đàn nái của cơ sở tăng từ 75 con lên 150 con qua 3 năm, trong đó đàn nái kiểm định tăng trưởng cao nhất (333,33%), phản ánh xu hướng mở rộng quy mô sản xuất giống tập trung.
  2. Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh sản khoa: Đã định lượng chính xác tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung (10,60%) và viêm vú (6,00%) trên tổng đàn 150 nái theo dõi. Phát hiện mối tương quan giữa giống và bệnh lý: lợn ngoại cảm nhiễm cao (Yorkshire 23,08%, Landrace 17,54%), lợn nội Móng Cái không mắc bệnh (0,00%).
  3. Hiệu quả điều trị thực tế: Trong công tác thú y tại trại, 100% số ca mắc bệnh sinh sản (16 ca viêm tử cung và 9 ca viêm vú) đều được điều trị khỏi hoàn toàn bằng các phác đồ kết hợp sát trùng tại chỗ (thuốc tím KMnO4 0,1%, chườm lạnh vắt cạn sữa) và kháng sinh toàn thân (VETRIMOXIN.A hoặc MD PENI STREP kết hợp thuốc trợ sức).

Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật của tác giả

  • Hoàn thiện kỹ thuật sinh sản và đỡ đẻ: Cán bộ kỹ thuật và dẫn tinh viên phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vô trùng khi phối giống nhân tạo; thao tác trợ sản khi đẻ khó phải nhẹ nhàng, tránh dùng lực quá mạnh gây tổn thương niêm mạc đường sinh dục; tiêm Oxytocin (2–4 ml/con) sau khi sinh để kích thích tống sạch sản dịch và nhau thai.
  • Quản lý chế độ dinh dưỡng: Giảm khẩu phần ăn trước khi đẻ 1 tuần và cho nhịn ăn trong ngày đẻ để hạn chế hiện tượng tiết sữa quá nhiều gây căng tức và tắc tia sữa; thực hiện bấm nanh triệt để cho lợn con ngay sau sinh nhằm ngăn ngừa xây xát núm vú mẹ.
  • Biện pháp vệ sinh thú y: Vệ sinh chuồng đẻ sạch sẽ trước 1 tuần, sát trùng bằng vôi bột hoặc nước vôi 20%; tắm rửa sạch sẽ cho nái trước khi vào chuồng đẻ; thụt rửa tử cung định kỳ bằng dung dịch KMnO4 0,1% hoặc nước muối sinh lý ngay sau khi đẻ đối với những ca đẻ kéo dài hoặc có can thiệp cơ học.
  • Kiến nghị đối với trang trại: Trại cần có kế hoạch đào tạo nâng cao tay nghề chuyên môn cho đội ngũ công nhân; kiểm soát nghiêm ngặt quy trình sát trùng phương tiện và người ra vào chuồng; tăng cường chuyển giao quy trình kỹ thuật chăn nuôi an toàn sinh học cho người dân quanh vùng.

Đóng góp thực tiễn của khóa luận

Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực địa chi tiết về tình hình dịch tễ bệnh sinh sản trên đàn nái tại một địa bàn miền núi cụ thể (huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn). Đề tài làm rõ cơ sở thực tiễn để lựa chọn giống lợn nuôi thích hợp và kiểm chứng hiệu quả can thiệp của các dòng kháng sinh phổ biến trong điều kiện chăn nuôi trang trại tư nhân.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Thời gian thực nghiệm giới hạn trong 5 tháng (06/2013 – 11/2013), chưa theo dõi được chu kỳ sinh sản liên tục của đàn nái qua nhiều năm hoặc nhiều lứa đẻ tiếp theo.
    • Việc chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa trên các dấu hiệu lâm sàng bên ngoài và kinh nghiệm thực địa; chưa thực hiện được các xét nghiệm vi sinh chuyên sâu trong phòng thí nghiệm như phân lập vi khuẩn, định lượng hiệu giá kháng thể hoặc làm kháng sinh đồ trực tiếp trên các mẫu bệnh phẩm tại trại.
    • Tác giả là sinh viên thực tập bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm tay nghề lâm sàng và tiếp cận cơ sở còn những hạn chế nhất định.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng theo dõi các chỉ tiêu sinh lý sinh sản dài hạn của lợn nái sau điều trị (tỷ lệ đậu thai ở chu kỳ kế tiếp, số lợn con đẻ ra còn sống/ổ, khối lượng cai sữa của đàn con).
    • Kết hợp lấy mẫu bệnh phẩm dịch viêm tử cung và sữa viêm để nuôi cấy phân lập, xác định tính kháng thuốc của các chủng vi khuẩn (E. coli, Streptococcus, Staphylococcus) tại địa phương nhằm tối ưu hóa các phác đồ điều trị.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu học thuật và kỹ thuật hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y: Cung cấp phương pháp bố trí thí nghiệm lâm sàng phân lô so sánh, cách thức theo dõi và ghi chép sổ sách dịch tễ đàn nái, cùng biểu mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp đại học hoàn chỉnh.
  • Kỹ thuật viên và chủ trang trại chăn nuôi lợn: Tham khảo trực tiếp quy trình nuôi dưỡng nái theo giai đoạn chửa và nuôi con; công thức tính định mức thức ăn cho nái đang tiết sữa; lịch tiêm phòng 4 loại vaccine trọng điểm (Dịch tả, LMLM, Giả dại, Tai xanh); và quy trình thụt rửa tử cung bằng thuốc tím KMnO4 0,1%.
  • Người làm đề tài nghiên cứu bệnh sản khoa gia súc: Tham khảo hệ thống tài liệu tổng quan về giải phẫu sinh sản lợn nái, phân loại bệnh học các thể viêm vú và viêm tử cung, cùng liều lượng sử dụng các dòng kháng sinh thú y như Amoxycillin kéo dài và Penicillin - Streptomycin phối hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu đàn lợn nái tại trại Lăng Trung Kiên đã biến động như thế nào trong giai đoạn 2011 – 2013?

Tổng đàn nái tăng từ 75 con (năm 2011) lên 109 con (năm 2012) và đạt 150 con (tháng 10/2013), tương đương mức tăng 200%. Trong đó, nái kiểm định tăng mạnh nhất từ 15 con lên 50 con (tăng 333,33%); nái hậu bị tăng từ 20 con lên 38 con (tăng 190%); nái cơ bản tăng từ 40 con lên 62 con (tăng 155%).

2. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung và viêm vú giữa các giống lợn tại trại có sự khác biệt ra sao?

Trên tổng số 150 lợn nái theo dõi, giống ngoại Yorkshire có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất với 23,08% (13,85% viêm tử cung và 9,23% viêm vú); tiếp đến là giống Landrace với 17,54% (12,28% viêm tử cung và 5,26% viêm vú). Riêng giống lợn nội Móng Cái (28 con) không có cá thể nào mắc bệnh (tỷ lệ 0,00%).

3. Khóa luận phân loại bệnh viêm tử cung ở lợn nái thành những thể lâm sàng nào?

Bệnh viêm tử cung được phân thành 3 thể:

  • Thể nhẹ (viêm tử cung nhờn): Thân nhiệt 39–39,5°C, kém ăn, chảy dịch nhầy loãng màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi sau khi đẻ 12–72 giờ, ít ảnh hưởng đến lượng sữa.
  • Thể vừa (viêm tử cung mủ): Thân nhiệt 39,5–40°C, bỏ ăn, nằm lì, dịch âm hộ màu vàng xanh lẫn mủ sệt mùi tanh thối, niêm mạc âm đạo có váng mủ.
  • Thể nặng (viêm tử cung mủ hoại tử): Thân nhiệt trên 40°C, ủ rũ, mủ xanh vàng sệt hoặc bã đậu có lẫn máu, mùi thối khắm, cổ tử cung mở, xuất hiện 7–8 ngày sau đẻ và làm mất hẳn lượng sữa.

4. Thuốc kháng sinh chính được lựa chọn thử nghiệm trong các phác đồ điều trị gồm những loại nào và liều dùng ra sao?

Tác giả thử nghiệm 2 loại kháng sinh:

  • VETRIMOXIN.A (chứa Amoxycillin trihydrate 150 mg/ml): Tiêm bắp liều 1 ml/10 kg thể trọng, tiêm nhắc lại sau 48 giờ.
  • MD PENI STREP (chứa Procaine Penicillin G và Streptomycin Sulphate): Tiêm bắp liều 1 ml/10 kg thể trọng, tiêm nhắc lại sau 24 giờ. Cả hai phác đồ đều phối hợp thụt rửa tử cung bằng KMnO4 0,1% (đối với viêm tử cung) hoặc chườm đá lạnh vắt cạn sữa (đối với viêm vú) cùng các thuốc trợ sức Vitamin B1, ADE-Bcomplex và Analgin.

5. Công thức tính lượng thức ăn hàng ngày cho lợn nái nuôi con từ ngày thứ 7 sau đẻ được tác giả áp dụng như thế nào?

Từ ngày thứ 7 sau khi đẻ cho đến khi cai sữa, lượng thức ăn hàng ngày cho mỗi nái được tính theo công thức: $$\text{Lượng thức ăn (kg/nái/ngày)} = 2\text{ kg} + (0{,}3 \times \text{số con theo mẹ})$$ Khẩu phần này được điều chỉnh tăng giảm tùy theo thể trạng thực tế của từng cá thể nái (nái gầy được tăng thêm thức ăn và ngược lại).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Thị Thu đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý thuyết sản khoa thú y và hoàn thành điều tra thực tiễn trên đàn nái nuôi tại trại lợn Lăng Trung Kiên, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung (10,60%) và viêm vú (6,00%) trên 150 nái theo dõi, chỉ ra sự mẫn cảm bệnh cao ở các giống ngoại (Yorkshire, Landrace) so với sức kháng bệnh của giống lợn nội Móng Cái. Kết quả thử nghiệm điều trị lâm sàng kết hợp can thiệp tại chỗ bằng KMnO4 0,1% hoặc chườm lạnh với kháng sinh phổ rộng (Amoxycillin kéo dài hoặc Penicillin - Streptomycin) và thuốc bổ trợ đã đạt tỷ lệ chữa khỏi 100%, cung cấp các chỉ dẫn kỹ thuật có giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác thú y tại cơ sở chăn nuôi.