BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH ---------------oOo--------------- HỨA NGỌC LỢI SỰ BẤT CÂN XỨNG TRONG TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG TIỀN LÊN THAY ĐỔI LƯỢNG TIỀN MẶT NẮM GIỮ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2015 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH ---------------oOo--------------- HỨA NGỌC LỢI SỰ BẤT CÂN XỨNG TRONG TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG TIỀN LÊN THAY ĐỔI LƯỢNG TIỀN MẶT NẮM GIỮ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.
Hồ Chí Minh - Năm 2015 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Lý do thực hiện đề tài Xác định lượng tiền mặt nắm giữ trong doanh nghiệp là một quyết định tài chính quan trọng của nhà quản lý. Khi doanh nghiệp có được dòng tiền thu về từ các hoạt động đầu tư mang lại, nhà quản lý sẽ phải đưa ra các quyết định như chi trả cổ tức, mua lại cổ phiếu, tái đầu tư, hoặc để tích lũy lượng tiền mặt nắm giữ. Đối với các doanh nghiệp không bị ràng buộc tài chính có nghĩa là các doanh nghiệp có thể dễ dàng huy động được các nguồn vốn bên ngoài, thì không nhất thiết phải có lượng tiền mặt nắm giữ cao.
Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp bị ràng buộc tài chính do gặp phải những khó khăn khi tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài thì vai trò của lượng tiền mặt nắm giữ trong đầu tư là rất lớn. Có hai động cơ chính để doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt. Đầu tiên, do động cơ giao dịch, các doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt để tránh các chi phí phát sinh khi chuyển đổi các tài sản thay thế tiền thành tiền mặt. Theo Opler và cộng sự (1999), khi các doanh nghiệp đang thiếu các tài sản luân chuyển thì thật là tốn kém nếu phải gia tăng huy động vốn từ việc cắt giảm đầu tư, cắt giảm cổ tức hoặc gia tăng vốn từ bên ngoài thông qua việc bán các tài sản hay phát hành thêm cổ phần.
Thứ hai, các doanh nghiệp dự trữ tiền mặt để dự phòng rủi ro thiếu hụt tiền mặt trong tương lai hoặc xảy ra các cú sốc trong dòng tiền. Theo Keynes và cộng sự (1936) giải thích rằng các doanh nghiệp cần dự trữ tiền mặt cho những nhu cầu chi tiêu bất ngờ, những cơ hội đầu tư trong tương lai, chi trả các khoản nợ… Trong các yếu tố tác động đến lượng tiền mặt nắm giữ của doanh nghiệp thì tác động của dòng tiền là rất lớn. Do đó, đã có khá nhiều nghiên cứu về tác động của dòng tiền lên thay đổi lượng tiền mặt nắm giữ của các doanh nghiệp. Theo như nghiên cứu của Almeida và cộng sự (2004) thì tác động của dòng tiền lên thay đổi lượng tiền mặt nắm giữ là cùng chiều.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Riddick TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 và Whited (2009) lại trái ngược với nghiên cứu của Almeida và cộng sự (2004) khi cho rằng tác động của dòng tiền lên thay đổi lượng tiền mặt nắm giữ là nghịch chiều. Và gần đây nhất, nghiên cứu của Bao và cộng sự (2012) kết luận rằng tồn tại sự bất cân xứng (sự khác biệt) về mối quan hệ giữa thay đổi lượng tiền mặt nắm giữ và dòng tiền giữa doanh nghiệp có dòng tiền dương và doanh nghiệp có dòng tiền âm. Khi doanh nghiệp có dòng tiền dương thì tác động của dòng tiền lên thay đổi lượng tiền mặt nắm giữ là nghịch chiều và ngược lại, khi doanh nghiệp có dòng tiền âm thì tác động này là cùng chiều. Phần lớn các nghiên cứu về tiền mặt nắm giữ của doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay chỉ đi vào phân tích các yếu tố tác động đến lượng tiền mặt nắm giữ mà chưa đi sâu vào bản chất tác động của từng yếu tố quan trọng đối với lượng tiền mặt nắm giữ.
Trong các yếu tố tác động đến lượng tiền mặt nắm giữ thì dòng tiền có tác động rất lớn nên tác giả đã chọn đề tài “Sự bất cân xứng trong tác động của dòng tiền lên thay đổi lƣợng tiền mặt nắm giữ của các doanh nghiệp Việt Nam” để đi sâu vào phân tích tác động của dòng tiền lên thay đổi lượng tiền mặt nắm giữ thực sự có bị bất cân xứng hay không trong điều kiện của dòng tiền, để từ đó giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đưa ra các chính sách quản trị tiền mặt khác nhau phù hợp với tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu tiến hành kiểm định sự bất cân xứng trong tác động của dòng tiền lên thay đổi lượng tiền mặt nắm giữ trong điều kiện khác nhau của dòng tiền đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu Đề tài được thực hiện nhằm giải đáp các câu hỏi nghiên cứu sau đây: Có tồn tại sự bất cân xứng trong tác động của dòng tiền lên thay đổi lượng tiền mặt nắm giữ trong điều kiện dòng tiền khác nhau hay không ? TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Sự bất cân xứng trong tác động của dòng tiền lên thay đổi lượng tiền mặt nắm giữ giữa doanh nghiệp bị ràng buộc tài chính và doanh nghiệp không bị ràng buộc tài chính khác nhau như thế nào ? Tác động của dòng tiền lên thay đổi lượng tiền mặt nắm giữ giữa doanh nghiệp có sự kiểm soát bên ngoài chặt chẽ và doanh nghiệp có ít sự kiểm soát bên ngoài khác nhau như thế nào ? 1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan hệ giữa thay đổi lượng tiền mặt nắm giữ và dòng tiền của doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu: Về mặt không gian: đề tài tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Về mặt thời gian: dữ liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014. Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu Dữ liệu nghiên cứu bao gồm các doanh nghiệp phi tài chính đã được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2008 đến 2014. Các doanh nghiệp tài chính, doanh nghiệp bất động sản, các doanh nghiệp không có đầy đủ dữ liệu theo yêu cầu đã được loại ra khỏi mẫu nghiên cứu.
Do các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính và bất động sản là những loại hình kinh doanh đặc biệt. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính nắm giữ một lượng tiền mặt rất nhiều nên sẽ ảnh hưởng và làm sai lệch kết quả nghiên cứu. Loại hình kinh doanh bất động sản mang tính chất thời vụ, có tính xu hướng theo một giai đoạn nào đó, có những thời kỳ hàng tồn kho rất lớn nên sẽ ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu. Do tác giả sử dụng mẫu dữ liệu là cân đối nên các doanh nghiệp không có đầy đủ dữ liệu sẽ được loại bỏ khỏi mẫu nghiên cứu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Với mục tiêu tìm hiểu về chính sách nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 nên tác giả đã không sử dụng dữ liệu trước năm 2008. Đối với các doanh nghiệp không có đủ dữ liệu nghiên cứu từ năm 2008 đến 2014, tác giả cũng loại ra khỏi mẫu nghiên cứu bởi vì sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 thì có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động không tốt dẫn đến phá sản, hủy niêm yết trên thị trường chứng khoán. Như vậy, nếu sử dụng mẫu dữ liệu không cân đối của các doanh nghiệp này sẽ ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu đối với các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn hoạt động. Mẫu dữ liệu nghiên cứu của tác giả bao gồm 321 doanh nghiệp phi tài chính với 1,605 quan sát.
Dữ liệu nghiên cứu của các doanh nghiệp được tác giả thu thập từ các báo cáo tài chính, các báo cáo thường niên, các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, các báo cáo lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp được niêm yết trên các website như www.vn, website của doanh nghiệp, website của Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Dữ liệu được thu thập và trình bày dưới dạng dữ liệu bảng (panel data) theo từng doanh nghiệp và phân bổ qua các năm. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy đa biến cho dữ liệu bảng. Sau khi lập các phương trình để ước lượng các nhân tố tác động đến thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ, bài nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS) và GMM bậc 4 để xác định các hệ số ước lượng.
Sau đó, bài nghiên cứu sẽ đưa ra phương pháp ước lượng tốt nhất dựa vào kết quả kiểm định các giả thiết vi phạm của phương pháp OLS và kiểm định sự phù hợp của phương pháp GMM. Tiếp theo, tác giả sẽ phân tích các kết quả hồi quy và đưa ra các giải thích cho kết quả nghiên cứu. Mô hình hồi quy sử dụng trong bài nghiên cứu được thực hiện bởi sự hỗ trợ của phần mềm Stata 12. Kết cấu của luận văn Bài nghiên cứu được chia làm 5 phần như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chƣơng 1: Giới thiệu.
Trình bày một cách tổng quan về ý tưởng, nội dung bài nghiên cứu. Từ đó thấy được vấn đề cần nghiên cứu. Chƣơng 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trƣớc đây. Trong chương này, tác giả sẽ trình bày về khung lý thuyết phân tích và tổng hợp những kết quả nghiên cứu từ các bài nghiên cứu trước đây của các tác giả trên thế giới về cùng chủ đề nghiên cứu.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả sẽ trình bày dữ liệu, giả thiết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Trong chương này, tác giả tiến hành thống kê mô tả các biến, kiểm định các giả thiết nghiên cứu và đưa ra kết quả nghiên cứu.
Chƣơng 5: Kết luận. Trình bày kết luận, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. Tóm lại, trong chương này tác giả đã nêu lên lý do cho việc lựa chọn đề tài nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và bố cục của luận văn để làm cơ sở cho việc nghiên cứu trong các chương tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.