CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG VỚI TƯ CÁCH LÀ NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH TRONG TRANH CHẤP TÀI SẢN BẢO ĐẢM 1. Thực trạng pháp luật về người thứ ba ngay tình trong tranh chấp tài sản bảo đảm 1. Người thứ ba ngay tình Hiện nay không có quy phạm pháp luật cụ thể giải thích “ngay tình”, “người tình ba ngay tình” nên áp dụng tương tự pháp luật. Theo Điều 6 BLDS 2015 có quy định nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật như sau: “Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.” Bộ luật dân sự 2015 có quy định về chiếm hữu ngay tình và không ngay tình như sau: Điều 180, Chiếm hữu ngay tình: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu” và Điều 181, Chiếm hữu không ngay tình: “Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu” Việc xác định biết hoặc phải biết, không biết, không thể biết hoặc không buộc phải biết là cơ sở để xác định ngay tình hoặc không ngay tình Thứ nhất, các quy định pháp luật có liên quan không trực tiếp ghi nhận cụm từ “không ngay tình” nhưng xác định không bảo vệ các chủ thể “biết hoặc có thể biết” đến sự kiện, hiện tượng nào đó có thể làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của họ nhưng họ vẫn quyết định tham gia giao dịch.
Cụ thể, các điều luật BLDS 2015 quy định: Điều 139 BLDS 2015 quy định hậu quả pháp lý của hành vi đại diện, “Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không 8 làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối”. Cụm từ "biết hoặc phải biết" là một yếu tố quan trọng trong việc xác định trách nhiệm và quyền hạn của các bên liên quan trong quá trình thực hiện quyền đại diện theo ủy quyền. Nó giúp đảm bảo rằng các bên liên quan hành động dựa trên sự hiểu biết và trách nhiệm đúng mức, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các bên không có lỗi hoặc không có trách nhiệm trong các hành vi vượt quá phạm vi ủy quyền. Điều 139 có nghĩa trường hợp người đại diện biết việc giao dịch đem lại bất lợi cho người đại diện nhưng vẫn cố ý thực hiện chính là bên có lỗi và không được bảo vệ.
Người được đại diện sẽ là bên thứ ba ngay tình được bảo vệ. Điều 143 BLDS 2015 quy định hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, “Trường hợp giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch. Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này”. Điều luật xác định không bảo vệ các chủ thể “không ngay tình”.
Cụ thể, trong trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc người đại diện vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch. Một số điều luật tại BLDS 2015 quy định nội dung tương tự về “biết hoặc phải biết”: Điều 225 BLDS 2015 quy định “xác lập quyền sở hữu trong trường hợp sáp nhập: Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của người khác vào tài sản là động sản của mình, mặc dù đã biết hoặc phải biết tài sản đó không phải là của 9 mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập thì chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập có một trong các quyền sau đây: Yêu cầu người sáp nhập tài sản giao tài sản mới cho mình và thanh toán cho người sáp nhập giá trị tài sản của người đó; Yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại nếu không nhận tài sản mới; Quyền khác theo quy định của luật. Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của người khác vào tài sản là bất động sản của mình, mặc dù đã biết hoặc phải biết tài sản đó không phải là của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập thì chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập có một trong các quyền sau đây: Yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại; Quyền khác theo quy định của luật”. Điều 226 BLDS 2015 quy định “xác lập quyền sở hữu trong trường hợp trộn lẫn: Khi một người đã trộn lẫn tài sản của người khác vào tài sản của mình, mặc dù đã biết hoặc phải biết tài sản đó không phải của mình và không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị trộn lẫn thì chủ sở hữu tài sản bị trộn lẫn có một trong các quyền sau đây: Yêu cầu người đã trộn lẫn tài sản giao tài sản mới cho mình và thanh toán cho người đã trộn lẫn phần giá trị tài sản của người đó; Yêu cầu người đã trộn lẫn tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại nếu không nhận tài sản mới”.
Điều 405 BLDS 2015 quy định “hợp đồng theo mẫu: Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra. Hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đề nghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng. Trình tự, thể thức công khai hợp đồng theo mẫu thực hiện theo quy định của pháp luật”. Điều 406 BLDS 2015 quy định “điều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng: Điều kiện giao dịch chung chỉ có hiệu lực với bên xác lập giao dịch trong trường hợp điều kiện giao dịch này đã được công khai để bên xác lập giao dịch biết hoặc phải biết về điều kiện đó.
Trình tự, thể thức công khai điều kiện giao dịch 10 chung thực hiện theo quy định của pháp luật” Điều 429 BLDS 2015 quy định “thời hiệu khởi kiện về hợp đồng: Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Điều 444 BLDS 2015 quy định “bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua bán: Trường hợp bên mua biết hoặc phải biết tài sản mua bán thuộc sở hữu của người thứ ba mà vẫn mua thì phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại” Một số ví dụ về trường hợp ngân hàng biết hoặc có thể biết khi tham gia giao dịch dân sự làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của họ nhưng vẫn quyết định tham gia giao dịch thì ngân hàng là bên thứ ba không ngay tình Ví dụ 1: Nhận thế chấp thửa đất nhưng trước đó cơ quan có thẩm quyền đã công bố quy hoạch, nghiêm cấm các giao dịch liên quan, cấm mốc lộ giới rồi, cấm giao dịch liên quan đến phần giải toả mặc dù giấy tờ, sổ đất chưa điều chỉnh nhưng đã công khai quy hoạch nhưng khi ngân hàng nhận thế chấp bất chấp tất cả vẫn nhận thửa đất đó, bao gồm cả phần nhà nước đã công bố quy hoạch, trong trường hợp này phải biết và không ngay tình. Ví dụ 2: Trên sổ đất có ghi diện tích sử dụng chung và sử dụng riêng, thì diện tích sử dụng chung có quyền của bên chủ thể khác thì bắt buộc phải đưa đồng sở hữu vào một bên bảo đảm hoặc được sự đồng ý của họ. Trường hợp chỉ có 1 chủ sở hữu đứng ra ký hợp đồng thế chấp với ngân hàng và không có sự đồng ý của các đồng sở hữu còn lại thì ngân hàng là bên thứ ba không ngay tình khi hợp đồng thế chấp bị tuyên bố vô hiệu.
Thứ hai, các quy định pháp luật có liên quan đều hướng đến thừa nhận “ngay tình” trong thuật ngữ “người thứ ba ngay tình” chính là “không biết và không thể biết” đối phương trong giao dịch không có quyền định đoạt tài sản. Cụ thể: Điều 142 BLDS 2015 quy định hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện, “Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được 11 đại diện, trừ trường hợp: Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện”. Cụm từ "không biết hoặc không thể biết" trong Điều 142 được dùng để bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba (người giao dịch) trong các tình huống mà người đại diện vượt quá phạm vi ủy quyền. Cụm từ này nhằm bảo vệ người giao dịch trong trường hợp họ không có thông tin hoặc không thể có thông tin về việc người đại diện hành động vượt quá phạm vi ủy quyền.
Điều này giúp đảm bảo rằng người giao dịch không phải chịu thiệt hại hoặc rủi ro từ hành vi vượt quá phạm vi ủy quyền của người đại diện.