CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG – HỢP ĐỒNG MẪU VÀ HỢP ĐỒNG MẪU ĐIỆN TỬ Chế định về hợp đồng không là một vấn đề xa lạ hiện nay, khi hợp đồng được giao kết hàng ngày, hàng giờ, dưới nhiều hình thức khác nhau và trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Không những vậy, hợp đồng còn là công cụ chính yếu trong việc xác lập quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau, chẳng hạn như giữa người tiêu dùng với nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tuy vậy, hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, vốn là một chủ thể đặc biệt, không chỉ mang bản chất của một hợp đồng thông thường, mà còn chứa đựng những đặc trưng của một hợp đồng với bên yếu thế.
Từ đó khiến cho việc điều chỉnh loại hợp đồng này cần có những khác biệt nhất định so với các hợp đồng thông thường. Trước khi đi đến phân tích nội dung chính về “tình trạng không đọc hợp đồng của người tiêu dùng”, chúng ta cần có cái nhìn tổng quan về hợp đồng và hợp đồng với bên yếu thế, cũng như tìm hiểu về hợp đồng mẫu, loại hợp đồng chủ yếu áp dụng trong giao dịch với người tiêu dùng. Từ đó có thể rút ra những đặc trưng riêng biệt trong giao kết hợp đồng với bên yếu thế nói chung và người tiêu dùng nói riêng so với nguyên tắc giao kết hợp đồng thông thường, đồng thời hiểu rõ hơn một số loại hợp đồng mẫu điện tử. Những vấn đề về hợp đồng và hợp đồng với bên yếu thế 1.
Hợp đồng và nguyên tắc giao kết hợp đồng Ngày nay, hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để con người thực hiện các giao dịch, trao đổi để phục vụ nhu cầu chính đáng của mình1. Trong quá trình phát triển của mình, hợp đồng xuất hiện dưới nhiều tên gọi, và nhiều loại hình khác nhau: từ hợp đồng mua bán, hợp đồng vay mượn, hợp đồng ủy thác. Từ đây đưa đến câu hỏi, vậy hợp đồng là gì? Hiện nay không có một khái niệm thống nhất về hợp đồng mà tùy thuộc vào quan điểm, góc nhìn, hệ thống luật mà cách hiểu về hợp đồng có thể khác nhau2. Theo các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law, hợp đồng là tổng hòa của ba yếu tố (i) kết quả của sự gặp gỡ ý chí; (ii) sự ràng buộc về nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng; và (iii) sự tự do ý chí giữa 1Lê Minh Hùng, 2010.
Hiệu lực của hợp đồng, Luận văn tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh 2 Xem Chú thích số 1, tr. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 các bên giao kết. 3 Các quốc gia theo hệ thống Common Law lại có cách hiểu về hợp đồng đơn giản là một sự thống nhất ý chí của các bên trong hợp đồng4.
Trong khi đó, pháp luật Việt Nam đưa ra khái niệm hợp đồng theo Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Có thể thấy rằng, khái niệm hợp đồng theo BLDS 2015 mang tính khái quát, hợp lý và thuyết phục bởi trong đó đã bao gồm đầy đủ các đặc trưng của hợp đồng, thể hiện được vai trò, bản chất của hợp đồng. Đặc biệt, khái niệm này đã khắc phục được bất cập trong khái niệm cũ về “hợp đồng dân sự” theo Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005). Thật vậy, Điều 388 BLDS 2005 quy định khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Trong đó cụm từ “dân sự” đã gây nên nhiều tranh cãi về phạm vi điều chỉnh của BLDS đối với các loại hợp đồng khác và gây những hiểu nhầm không cần thiết về đối tượng hợp đồng. Nhìn chung, hợp đồng có bản chất là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, tổ chức nhằm tạo lập hiệu lực pháp lý, tức là tạo ra sự ràng buộc pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. 5 Có thể thấy rằng tất cả các hợp đồng đều xuất phát từ sự thỏa thuận. Tuy nhiên, không phải mọi sự thỏa thuận của các bên đều là hợp đồng6.
Để một thỏa thuận được xem là hợp đồng khi thỏa thuận đó phù hợp với ý chí các bên và để hợp đồng đó có hiệu lực thi hành, thỏa thuận giữa các bên phải tuân theo theo những nguyên tắc sau: (i) Nguyên tắc tự do ý chí Hợp đồng theo cách hiểu thông thường là một loại thỏa thuận mà đặc điểm chung của chúng là sự thống nhất ý chí. Do vậy, ý chí có vai trò vô cùng quan trọng và là yếu tố cơ bản của hợp đồng. Ở bất kỳ hệ thống luật nào hay pháp luật hợp đồng của quốc gia nào, thì 3 Nguyễn Ngọc Khánh, 2007. Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam.
Hà Nội: Nhà xuất bản Tư pháp, tr. 29 4 Giuditta Cordero Moss, 2007. International Contracts between Common Law and Civil Law: Is Non-state Law to Be Preferred? The Difficulty of Interpreting Legal Standards Such as Good Faith. Global Jurist, Vol.
7 5 Hoàng Thế Liên (Cb), 1997. Bình luận khoa học Một số vấn đề cơ bản của BLDS (1995), Hà Nội: Nhà xuất bản CTQG, tr. 6 Phạm Hữu Nghị, 2005. Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) với vấn đề cải cách pháp luật hợp đồng.
Nhà nước và Pháp luật, số 4 (204), tr. 22-27 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nguyên tắc tự do ý chí luôn được thừa nhận như nền tảng của pháp luật hợp đồng7. Tự do ý chí được thể hiện ở nhiều khía cạnh như: tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng nhưng không trái pháp luật, tự do giao kết hợp đồng, tự do lựa chọn chủ thể giao kết. Nguyên tắc tự do ý chí có nguồn gốc từ học thuyết tự do bắt nguồn từ tại Pháp, và được phát triển tại các quốc gia theo hệ thống Common Law vào cuối thế kỷ XIX và trở thành học thuyết trung tâm của luật hợp đồng cổ điển8.
Tuy vậy, học thuyết tự do cũng có những giới hạn nhất định. Khi các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên phức tạp, vị thế của các bên trong hợp đồng cũng không còn hoàn toàn ngang bằng chẳng hạn như hợp đồng lao động, hợp đồng bảo hiểm hay hợp đồng thế chấp thì nguyên tắc tự do ý chí, tự do giao kết hợp đồng không thể điều chỉnh một cách hợp lý được nữa. Từ đó, buộc Nhà nước phải can thiệp và hạn chế tự do ý chí của hợp đồng trong một số trường hợp để bảo vệ những lợi ích lớn hơn. (ii) Nguyên tắc thiện chí, trung thực Cũng như nguyên tắc tự do ý chí, nguyên tắc thiện chí, trung thực là nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt quá trình giao kết hợp đồng, thậm chí tồn tại trước khi hợp đồng được xác lập9.
Thiện chí, trung thực là những thuật ngữ trừu tượng và được xác định tùy theo từng trường hợp. Nguyên tắc này được ghi nhận trong BLDS 2005 và mới đây được thể hiện lại trong BLDS 2015 của Việt Nam cho thấy vai trò và vị trí của nguyên tắc trong pháp luật về hợp đồng quốc tế nói chung và của Việt Nam nói riêng.10 “Thiện chí” là ý định tốt, hoặc động cơ không bao gồm vụ lợi hay mong muốn lừa dối11. Còn “trung thực” được hiểu là tôn trọng sự thật, ngay thẳng, thật thà. Tuy vậy, trong hệ thống pháp luật Common Law, từ được dùng để chỉ chung cho nguyên tắc thiện chí, trung thực là “good faith”.
Trên thực tế, một trường hợp có thể vừa thuộc phạm trù thiện chí và 7 Ngô Huy Cương, 2008. Tự do ý chí và sự tiếp nhận tự do ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu Lập pháp, số 02, tr. Freedom of Contract and Fundamental Fairness for Individual Parties: The Tug of War Continues.
UMKC Law Review, Volume 77:3 9 Chẳng hạn theo Nguyên tắc Luật Hợp đồng Châu Âu (Principles of European Contract Law - PECL), nguyên tắc thiện chí được xem là một yếu tố ràng buộc trách nhiệm của các bên kể cả trong giai đoạn tiền hợp đồng.1 PECL quy định: “Mỗi bên được tự do thỏa thuận về việc giao kết hợp đồng mà không bị ràng buộc bất kỳ trách nhiệm nào nếu hợp đồng không được giao kết, trừ khi hành vi của bên đó là không thiện chí”. 10 Điều 6 BLDS 2005 và Điều 3 BLDS 2015 11 http://legal-dictionary.com/good+faith LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 vừa thuộc phạm trù của trung thực như vấn đề thông tin của hợp đồng12. Nguyên tắc thiện chí, trung thực cũng chỉ đúng nhất khi đặt trong môi trường hợp đồng thông thường, khi các bên có vị thế tương đương nhau và có sự cân bằng về lợi ích. Định nghĩa về hợp đồng theo lý thuyết cổ điển, mặc dù có thể áp dụng để giải thích hợp lý trong hầu hết mọi trường hợp, và theo một cách chung nhất, vẫn được xem là một trong những cách hiểu “khung” trong pháp luật về hợp đồng.
Nhưng với sự phát triển nhanh chóng và phức tạp của các mối quan hệ xã hội, những nguyên tắc trên không thể bao quát được hết các lĩnh vực mà thực tiễn đang xảy ra. Và thực tế loại hợp đồng không có sự tự do thỏa thuận và sự trung thực vẫn còn là dấu hỏi đã, đang và sẽ luôn tồn tại, đó là hợp đồng với người tiêu dùng mà được làm rõ trong Mục 1. Khái niệm hợp đồng và những nguyên tắc cơ bản giao kết hợp đồng là chế định trung tâm, làm cơ sở cho việc hình thành cũng như xác định hiệu lực hợp đồng. Tuy vậy, trong những giao dịch dân sự đặc biệt như hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, cần thiết phải có những chế định cụ thể hơn, điều chỉnh bao quát hơn bởi tính chất khác biệt của chủ thể hợp đồng.
Phần tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu về hợp đồng với bên yếu thế để có cái nhìn rõ nét hơn về vị trí của người tiêu dùng trong hợp đồng. Hợp đồng với người tiêu dùng với tư cách là bên yếu thế Người tiêu dùng, theo một nghĩa chung nhất là “người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích phục vụ cho các nhu cầu của chính bản thân, gia đình hoặc tổ chức của mình, không nhằm mục đích lợi nhuận. Hàng hoá, dịch vụ được mua cho sử dụng cuối cùng bởi các cá nhân, được coi là “người sử dụng cuối cùng”, “người tiêu dùng cuối cùng”13.