CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE QUAN LY VÀ BAO TON DAT NGAP NUOC I. TONG QUAN VE DAT NGAP NUOC 1. Dinh nghĩa dat ngập nước ĐNN rat da dạng, có mặt khắp mọi noi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới. Hàng thế kỷ nay, con người và các nền văn hoá nhân loại được hình thành và phát triển doc theo các trién sông hoặc ngay trên các vùng DNN.
DNN đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay người ta đã nhận biết được các chức năng va giá tri to lớn của chúng (Mitsch và Gosselink, 1986&1993; Dugan, 1990; Keddy, 2000). Qua các nghiên cứu, các nhà khoa học về ĐNN đã xác định được những điểm chung của ĐNN thuộc các loại hình khác nhau, đó là chúng đều có nước nông hoặc đất bão hoà nước, tồn trữ các chất hữu cơ thực vật phân huỷ chậm, và nuôi đưỡng rất nhiều loài động vật, thực vật thích ứng với điêu kiện bão hoa nước. Tuỳ thuộc vào sự khác nhau về loại hình, phân bô cùng với những mục đích sử dụng khác nhau mà người ta định nghĩa về ĐNN rất khác nhau. Trên thế giới hiện đã có trên 50 định nghĩa về DNN (Mitsch and Gosselink, 1986 & 1993; Dugan, 1990).
Nhiều tài liệu ở các nước như Canada, Hoa Kỳ và Úc (Zoltai, 1979), (33 CFR323. đã định nghĩa về đất ngập nước theo nhiều mức độ và mục đích khác nhau. Định nghĩa về DNN của Công ước RAMSAR (Công ước về các vùng DNN có tam quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước - Convention on wetland of intrenational importance, especially as waterfowl habitat) có tầm khái quát và bao hàm nhất. Theo định nghĩa này, DNN là: "Cac vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước tự nhiên hay nhân tạo, có nước thường xuyên hay tạm thời, nước đứng hay nước chảy, nước ngọt, nước lo hay nước mặn, ké cả các vùng nước ven biển có độ sâu không quá 6m khi thuỷ triều thấp đều là các vùng đất ngập nước" (Điều 1.
Công ước Ramsar, 1971). Ngoài ra, Công ước ( Điều 2.1) còn quy định các vùng đất ngập nước: “ Có thể bao gôm các vùng ven sông và ven biên nam kê các vùng dat ngập nước, cũng như các dao hoặc các thuỷ vực biển sâu hơn 6m khi triều thấp, nằm trong các vùng đất ngập nước”. Theo chương trình quốc gia về điều tra đất ngập nước của Mỹ: “Về vị trí phân bố, đất ngập nước là những vùng đất chuyền tiếp giữa những hệ sinh thái trên cạn và hệ sinh thái thủy vực. Những noi này mực nước ngầm thường nam sát mặt đất hoặc thường xuyên được bao phủ bởi lớp nước nông”.
Đất ngập nước phải có ba thuộc tính sau ( theo Cowardin và cộng sự, năm 1979) : Thứ nhất, có thời kỳ nào đó, đất thích hợp cho phần lớn các loài thực vật thủy sinh. Thứ hai, nền đất hầu như không bị khô. Thứ ba,nên đât không có câu trúc không rõ rệt hoặc bão hòa nước, bị ngập nước ở mức cạn tại một sô thời diém nao đó trong mua sinh trưởng hàng năm. Theo các nhà khoa học Canada: “Dat ngập nước là dat bão hòa nước trong thời gian dai du dé hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh.
Đó là những nơi khó tiêu hóa nước, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ước”. Theo các nhà khoa học New Zealand: “Đất ngập nước là một khái niệm chung dé chỉ những vùng đất âm ước từng thời kỳ hoặc thường xuyên. Những vùng ngập nước ở mức cạn và những vùng chuyên tiếp giữa đất nước. Nước có thể là nước ngọt, nước mặn hoặt nước lợ.
Đất ngập nước ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trưng bởi các loải thực vật và động vật thích hợp với điêu kiện sông âm ướt” Theo các nhà khoa học Oxtraylia: “Đất ngập nước là vùng dam lây, bãi lầy than bùn, tự nhiên hoặc nhân tạo, thường xuyên, theo mùa hoặc theo chu kỳ, nước tỉnh hoặc nước chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, bao gồm cả bãi lầy và những khu rừng ngập mặn lộ ra khi thủy triều xuống thấp”. Định nghĩa do các kỹ sư quân đội Mỹ đề xuất và là định nghĩa chính thức tại Mỹ: “Đất ngập nước là những vùng đất bị ngập hoặc bão hòa giữa nước bề mặt hoặc nước ngầm một cách thường xuyên và thời gian ngập đủ đề hỗ trợ cho tính ưu việt của thảm thực vật thích nghi điển hình trong những điều kiện đất bão hòa nước”. Đất ngập nước nhìn chung gồm: đầm lay, đầm pha, đầm lầy cây bụi những vùng dat tương tự. Những định nghĩa trên theo nghĩa hẹp, nhìn chung đều xem đất ngập nước như đới chuyên tiếp sinh thái ( Ecotone), những diện tích chuyền tiếp giữa môi trường trên cạn và ngập nước, những nơi mà sự ngạp nước của đất gây ra sự phát triển của một hệ thực vật đặc trưng ( theo Coward và cộng sự, năm 1979; Enny, năm 1985).
Hiện nay, định nghĩa theo công ước Ramsar là định nghĩa được nhiều người sử dụng. Phân loại và phân bố đất ngâp nước 2. Phân loại đất ngập nước Trên thế giới: s* Theo Mỹ: 4 nhóm chính: 1. Các vùng nước ngọt - — Những lưu vực, đồng bang ngập lụt theo nội địa: mùa ` - _ Đồng cỏ nước ngọt - Bai lầy nước ngọt nông - Bai lầy nước ngọt sâu - Nước ngọt trông trải (nước có độ sâu dưới 2m) - Pam lay cây bụi - Pam lay rừng cây gỗ - Bai lầy 2.
Cac vung nước mặn - Dong băng mặn nội địa: - Bai lây mặn - _ Nước man thông thoáng 3. Các vùng nước ngọt Đâm lây nước ngọt nông ven biên Đâm lây nước ngọt sâu Nước ngọt trông trải (những phân nông của nước trông trải dọc theo các con sông nước ngọt, thủy triêu và các eo biên. Các vùng mặn ven Vùng đât băng mặn biên Đông cỏ nước mặn Dam lây ngập nước mặn không thường xuyên Đầm lầy ngập nước mặn thường xuyên Các eo biên và vịnh Dam lay rừng ngập mặn Cách phân loại này được phô biến rộng ở Mỹ cho đến năm 1979. Thứ hai, phân loại đất ngập nước theo công ước Ramsar: gồm 22 loại: 1.
Biển và eo biển cạn (sâu đưới 6m khi thủy triều thấp) 1) Các cửa sông, châu thổ 2) Các đảo nhỏ ngoài khơi 3) Bờ biển có đá 4) Bãi biển (bãi cát, sạn) 5) Bãi bùn, bãi cát vùng gian triều 6) Đầm lầy rừng ngập mặn, rừng ngập mặn 7) Những đầm phá nước mặn hay nước lo ven biển 8) Ruộng muối (nhân tạo) 9) Ao tôm, cá 10) Các dòng chảy chậm (ở hạ lưu) 11) Các dòng chảy nhanh (ở thượng lưu) 12) Các hồ tạo nên do dòng sông chết và đầm lầy ven sông 13) Hồ nước ngọt và đầm lầy ven hồ 14) Ao nước ngọt 15) Hồ nước mặn, bãi sình lầy 16) Các hồ chứa nước, đập 17) Đồng cỏ, trảng cỏ và trảng cây bụi ngập nước theo mùa 18) Đồng lúa nước 19) Dat có khả năng canh tác, đất được tưới nước 20) Rừng dam lay, rừng ngập nước từng thời kỳ 21) Trũng than bùn * Hệ thống phân loại đất ngập nước theo IUCN (1990) Dat ngập nước man Thuộc biên Dưới triêu Thủy vực không có cây, dưới 6m khi thủy triều thấp, bao gôm cả vịnh và eo biên Thảm thực vật dưới triêu bao gôm bãi biên cỏ nhiệt đới Rạn san hô Gian triêu Bờ biên đá bao gôm vách đá và bờ đá Bờ biên có đá di động và đá cuội Bãi gian triều bùn, cát di động không có cây côi hoặc ruộng muôi Trâm tích gian triêu có cây bao gôm đâm lây nước mặn và rừng ngập mặn trên bờ biên có cây che khuât Thuộc Dưới triêu Nước vùng cửa sông, nước thường xuyên ở cửa sông cửa sông và hệ cửa sông của châu thô Gian triéu Bãi gian triêu bùn, cát hoặc bai muôi với rat ít thực vật Đâm lây gian triêu bao gôm đâm lây nước mặn, bãi cỏ ngập mặn, đâm lây nước ngọt và nước hô DNN có rừng gian triêu bao gôm rừng ngập mặn, rừng dừa nước, rừng đâm lây nước ngọt vùng triêu »4 Đâm, phá Phá nước lợ đên nước mặn với một hoặc nhiêu cửa hẹp thông với biển Hô nước mặn Ho, bãi và dam lây thường xuyên theo mùa, mặn hoặc nước lợ Dat ngập nước ngọt Thuộc Thường Sông suôi có nước thường xuyên kê cả thác nước xuyên Châu thé nội địa Tạm thời Sông và suôi có nước theo mùa và không có quy luật Đồng bằng ngập nước sông bao gồm đồng bằng ven sông, lưu vực ngập nước, đông cỏ ngập nước theo mùa Thuộc l Thường -H6 nước ngọt thường xuyên (>8ha), bao gồm cả vùng ao xuyén bờ ngập nước theo mùa hoặc không quy luật -Ao nước ngọt thường xuyên (< 8ha) Theo mùa -Hồ nước ngọt theo mùa (>8ha) gồm hồ đồng bang ngập nước Thuộc Có cây nh -Đâm nước ngọt thường xuyên và đâm trên đâtvô cơ »⁄ |®»< [on âm cao với thực vật vượt lên nước nhưng rễ của chúng lại năm dưới mặt nước trong phan lớn thời gian sinh trưởng.