CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 1. Khái niệm chung 1.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý Chỉ dẫn địa lý được sử dụng trong đời sống hàng ngày với ý nghĩa là bất kỳ dấu hiệu nào (từ ngữ, hình ảnh, biểu tương…) có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với một khu vực địa lý nhất định. Thông qua chỉ dân địa lý nhằm giúp người tiêu dùng phân biệt sản phẩm của khu vực sản xuất này với khu vực sản xuất khác. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chỉ dẫn địa lý đóng vai trò quan trọng như một phương tiện xúc tiến thương mại, làm gia tăng giá trị và uy tín cho sản phẩm, mang lại những lợi ích kinh tế to lớn cho người sử dụng chỉ dẫn địa lý Khái niệm về bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã hình thành ở Pháp vào đầu thế kỷ XX, các vấn đề liên quan đến chỉ dẫn nguồn gốc địa lý được xác định theo các thuật ngữ: chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ.
Sau đó, nó được nâng lên tầm quốc tế, đặc biệt trong Cộng đồng châu Âu, và được thừa nhận năm 1994 bởi Hiệp định về những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs). Hiệp định này thiết lập các tiêu chuẩn để quy định về bảo hộ và thực thi sở hữu trí tuệ quốc tế. xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu đối với chỉ dẫn địa lý. Nói cách khác chỉ dẫn địa lý là thuật ngữ có nguồn gốc từ hai thuật ngữ chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ hàng hóa.
Chỉ dẫn nguồn gốc là thuật ngữ xuất hiện sớm nhất trong các thuật ngữ trên. Chỉ dẫn nguồn gốc lần đầu tiên được đề cập đến trong công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, nhưng công ước này chưa đưa ra khái niệm cũng như các dấu hiệu của chỉ dẫn nguồn gốc. Kế thừa và phát triển công ước Paris, thỏa ước Marid 1891 về đăng ký quố tế nhãn hiệu hàng hóa quốc tế đã quy định về chỉ dẫn nguồn gốc. “Bất kỳ sản phẩm nào mang chỉ dẫn sai lệch và lừa dối mà qua đó, một trong số các quốc gia thành viên của thỏa ước Marid hoặc một địa điểm tại nước đó được chỉ dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp là nước hoặc địa điểm xuất xứ hàng nhập khẩu vào bất kỳ quốc gia thành viên nào của thỏa ước đều bị tịch thu” Chỉ dẫn nguồn gốc được quy định tai thỏa ước Marid phải là dấu hiệu chỉ dẫn chính xác về một quôc gia hoặc một địa điểm trong quốc gia đó mà tại đó hàng hóa được tạo ra.
Tên gọi xuất xứ hàng hóa thuật ngữ này cũng xuất hiện lần đâu tiên trong công ước Paris nhưng mãi đến hiệp định Lisbon được kí kết thì khái niệm tên gọi xuất xứ hàng hoá mới được chuẩn hoá. Có thể thấy rằng, Công ước Paris 1883 cũng như 7 Thoả ước Madrid 1891 đều không nhắc tới thuật ngữ chỉ dẫn địa lý mà chỉ nhắc tới hai thuật ngữ chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ. Tuy nhiên cả Công ước và Thoả ước kể trên không đưa ra được khái niệm về hai thuật ngữ này mà chỉ nhắc tới chúng với tư cách là đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ. Đến năm 1958, Thoả ước Lisbon về bảo hộ và đăng ký quốc tế tên gọi xuất xứ của hàng hoá ra đời đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm về tên gọi xuất xứ hàng hoá.
Theo điều 2, hiệp định Lisbon: “Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa lý của nước, khu vực hoặc vùng lảnh thổ dùng để chỉ đẫn cho sản phẩm bắt nguồn từ khu vực đó, có chất lượng hoặc những tính chất đặc thù riêng biệt xuất phát từ môi trường địa lý, bao gồm yếu tố tự nhiên và con người”. Theo thoả ước Lisbon thì tên gọi xuất xứ hàng hoá có 3 đặc điểm - Là tên của một khu vực địa lý, địa danh nhất định như tên nước, khu vực hoặc vùng, địa phương cụ thể. “Tên địa lý” phải là những tên gọi được sử dụng chính thức trên bản đồ địa lý để chỉ một khu vực địa lý nhất định. -Hàng hóa có sử dụng tên gọi xuât xứ phải bắt nguồn, được sản xuất từ khu vực địa lý mà nó chỉ dẫn.
- Phải có mối liên hệ giữa chất lượng và các tích chất đặc thù của hàng hóa với các yếu tố đặc biệt của môi trường địa lý, bao gồm các yếu tố tự nhiên và con người. Thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” đã được đề cập trong Hiệp định TRIPs tại khoản 1 điều 22 như sau “ Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hóa có nguồn gốc từ lãnh thổ của một nước thành viên hoặc từ một khu vực hay địa phương trong lãnh thổ đó mà chất lương, uy tín hay đặc tính khác của hàng hóa chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định”. Theo đó chỉ dẫn địa lý có 3 đặc điểm: - Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về nguồn gốc của hàng hóa, không nhất thiết phải là tên địa lý như tên gọi xuất xứ. Các chỉ dẫn này có thể là dấu hiệu bất kỳ ( từ ngữ, hình ảnh…) miễn là qua đó có thể chỉ ra được hàng hóa mang chỉ dẫn địa lý được bắt nguồn từ lãnh thổ của quốc gia nào hoặc thuộc một khu vực địa phương nào của lãnh thổ quốc gia đó.
Tuy nhiên dấu hiệu trên hàng hóa phải liên quan đếnn một quốc gia cụ thể hoặc một địa phương khu vực của một quốc gia cụ thể đến mức qua dấu hiệu người tiêu dùng biết được hàng hóa bắt nguồn từ đâu. Như vây, theo hiệp định TRIPs, phạm vi các chỉ dẫn được bảo hộ là chỉ dẫn địa lý rộng hơn so với tên gọi xuất xứ. 8 -Hàng hóa mang chỉ dẫn địa lý phải bắt nguồn từ lãnh thổ, địa phương hay khu vực được chỉ dẫn tới. Đây cũng là đặc điểm chung của chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi cuất xứ.
-Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính mà các tính chất này chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định. Tại Việt Nam, khái niệm chỉ dẫn địa lý được quy định tại khoản 22 điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 “ chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”. Khái niệm về chỉ dẫn địa lý theo pháp luật Việt Nam hiện hành hoàn toàn tương thích với điều 22.1 của Hiệp định TRIPs. Quyền sở hữu trí tuệ với chỉ dẫn địa lý 1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ SHTT có thể được hiểu một cách chung nhất là những kết quả sáng tạo trí tuệ mang tính vô hình nhưng lại có ý nghĩa rất lớn khi được ứng dụng vào các sản phẩm hữu hình; đó là những sản phẩm của quá trình sáng tạo khoa học- công nghệ văn học, nghệ thuật, khoa học… Quyền sở hữu trí tuệ quốc tế là quyền của chủ thể đối với các đối tường của quyền sở hữu trí tuệ phát sinh ở nước ngoài hoặc được bảo hộ theo pháp luật nước ngoài.
Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các nhóm quyền: quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả; quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. * Đặc điểm - Quyền sở hữu trí tuệ là quyền đối với các tài sản vô hình + Các đối tượng cảu quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra bởi lao động, sang tạo của trí tuệ xã hội tiếp cận với các sản phẩm trí tuệ thông qua các dạng cụ thể của sản phẩm đã được vật chất hóa + Quyền sở hữu trí tuệ vừa mang tính chất nhân than vừa mang tính chất tài sản. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có độc quyền trong việc khai thác, sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ + Quyền sở hữu trí tuệ chỉ phát sinh trong khoảng thời gian nhất định được pháp luật bảo hộ - Quyền sở hữu trí tuệ mang tính chất lãnh thổ + Tài sản trí tuệ dễ sao chép, phổ biến nên việc bảo hộ trong nước là rất khó khăn do đó quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trên lãnh thổ nước nào chỉ được bảo hộ ở nước đó nếu không có điều ước quốc tế khác. 9 + Pháp luật nơi phát sinh quyền sở hữu trí tuệ quy định điều kiện bảo hộ, đối tượng bảo hộ, thời hạn bảo hộ, quyền và nghĩa vụ - Quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ một cách đặc biệt nhằm chống lại hành vi sử dụng trái phép quyền sở hữu trí tuệ thông qua 2 cơ chế + Bảo hộ Quốc gia bằng việc mỗi nước tự xây dựng hệ thống pháp luật riêng trong lĩnh vực bảo hộ sở hữu trí tuệ + Bảo hộ quốc tế thông qua việc các quốc gia kí kết các điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương hoặc áp dụng nguyên tắc có đi có lại nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho pháp nhân, công dân các nước trên lãnh thổ của nhau.
Quyền SHTT bao gồm hai nội dung: quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp Quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng được quy định tại hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới cũng như trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương. Theo quy định của Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, khái niệm SHCN được hiểu theo hai nghĩa [10, tr.162]: Theo nghĩa rộng, SHCN không những chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của nó mà cho cả các nghành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm chế biến hoặc sản phẩm tự nhiên như rượu, ngũ cốc, lá thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột [6, điều 1. Theo nghĩa hẹp, đối tượng của SHCN bao gồm patent (sáng chế), mẫu hữu ích ( giải pháp hữu ích) kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ hàng hóa và chống cạnh tranh không lành mạnh [6, điều 1.2] Pháp luật Việt Nam, tại khoản 4 điều 5 Luật SHTT năm 2005 đã giải thích “ Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mất kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”.