Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ 1. Khái quát về sáng chế 1. Khái niệm về sáng chế Sáng chế không phải là một khái niệm mới, tuy nhiên ở Việt Nam khái niệm này thường được mọi người nghĩa đến theo quan niệm “cao siêu”và phải do những người có học hàm, học vị mới có thể tạo ra. Thực tế, sáng chế có thể được tạo ra bởi bất cứ người nào.
Tuy vậy, việc tìm hiểu sáng chế là gì là vấn đề cần thiết, có ý nghĩa khi chúng ta đi tìm hiểu các vấn đề pháp lý liên quan đến sáng chế. Theo từ điển tiếng Việt, sáng chế là “Nghĩ và chế tạo ra cái trước đó chưa từng có”1. Nhiều người đều nghĩ sáng chế là cái gì đó rất to lớn, rất khó để có thể được cấp văn bằng bảo hộ. Để có thể tìm hiểu khái niệm sáng chế là gì, việc tạo ra sáng chế và được cấp bằng sáng chế khó khăn như người ta thường nghĩ không chúng ta hãy xem xét ai là người tạo ra sáng chế.
Bất kì đối tượng nào cũng có thể tạo ra sáng chế. Từ những người có bằng cấp và học thức cao như giáo sư, tiến sĩ cho đến những người không có bằng cấp cao như công nhân, thợ thủ công, nông dân, người nội trợ, trẻ em hay người có khiếm khuyết về mặt thể chất v. đều có thể tạo ra sáng chế, thậm chí nhiều sáng chế. Thomas Edison, dù chưa học hết phổ thông nhưng ông vẫn là một nhà bác học vĩ đại với hơn một ngàn sáng chế các loại, phần lớn các sáng chế này có liên quan đến máy phát điện đã giúp cho sự thay đổi lớn lao và nhận thức của thế giới công nghệ.
Ở Nhật Bản, có người phụ nữ làm công việc nội trợ đã được cấp bằng sáng chế cho phương pháp chỉ dẫn sử dụng tàu điện ngầm một cách nhanh và chính xác nhất. Có rất nhiều học sinh, sinh viên được cấp bằng sáng chế cho những công cụ làm việc, học tập và vui chơi như bàn học đa năng, phao cứu sinh là cặp đi 1 http://www.de/~duc/Dict/ 4 học v.v… Tại Việt Nam, có rất nhiều sáng chế và giải pháp hữu ích lại do những người nông dân tạo ra đã đem lại dự tiện ích, tiết kiệm năng lượng và hiệu quả hơn trong công việc thường ngày như sáng chế máy đùn gạch, lò đóy rác thải không dùng nhiên liệu, dụng cụ bóc hành, thiết bị rang ngũ cốc liên tục v.v…Văn bằng bảo hộ độc quyền sáng chế có thể được cấp cho một công nghệ cực kỳ tân tiến nhưng cũng có thể được cấp cho một dụng cụ để sử dụng trong một hoàn cảnh rất bình thường. Tại Hội chợ công nghệ và thiết bị quốc tế Việt Nam 2015 (Techmart 2015), khách tham quan tỏ ra thích thú với máy cuốn rơm PT.CR57 của nhà sáng chế Phan Tấn Bện, Công ty TNHH MTV Cơ khí nông nghiệp Phan Tấn (Đồng Tháp). Máy cuốn rơm tự hành do nhà sáng chế không chuyên Phan Tấn Bện (Đồng Tháp) chế tạo phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước (bộ phận lấy rơm ở phía trước giúp rơm không bị bánh xe cán qua nên sạch hơn loại máy cuốn rơm gắn vào sau đầu kéo máy cày.
Ngoài ra, PT.CR57 sử dụng bánh xích cao su nên có thể dễ dàng di chuyển trên mọi địa hình từ mặt ruộng khô, ướt tới lầy thụt, khắc phục được hạn chế của máy cuốn rơm nhập khẩu chạy bằng bánh lốp cao su chỉ vận hành tốt trên đồng khô), giúp nông dân giảm công lao động, tăng thu nhập (trong khi một cái máy tương tự nhập của Nhật Bản với giá 400 triều đồng thì máy cuốn rơm PT.CR57 của nhà sáng chế Phan Tấn Bện có giá bán 286 triệu đồng)2. Vậy sáng chế là gì? Thực tế, khó có thể định nghĩa chính xác về sáng chế. Do vậy, trong quy định pháp lý của nhiều nước không trực tiếp định nghĩa sáng chế. Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới không đưa ra khái niệm sáng chế trừ một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Liên Xô cũ và Việt Nam.
Luật sáng chế của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ3, thay vì định nghĩa trực tiếp sáng chế, Điều 101 quy định về “Sáng chế có khả năng được cấp văn bằng bảo 2 http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/trong-nuoc/may-cuon-rom-thay-doi-cach-lam-nong-nghiep-truyen- thong-3290165.html 3 Luật sáng chế (1999) của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. 5 hộ”như sau: bất kỳ người nào sáng chế ra bất kỳ quy trình, máy móc, phương thức sản xuất, hợp chất, v.v mới và hữu dụng hoặc bất kỳ sự cải tiến nào mới và hữu dụng đối với quy trình, máy móc, phương thức sản xuất, hợp chất đó đều có thể được cấp bằng sáng chế hữu ích tùy theo các điều kiện và yêu cầu cụ thể của điều này. Theo định nghĩa này, sáng chế muốn được cấp văn bằng bảo hộ độc quyền sáng chế tại Hoa Kỳ phải rơi vào một trong 5 đối tượng được liệt kê ở trên, hơn nữa, theo luật pháp Hoa Kỳ, sáng chế được phân làm 03 loại là sáng chế hữu ích, sáng chế kiểu dáng và sáng chế cây trồng. Tương tự quan điểm của Hoa Kỳ, nhiều nước châu Âu cũng không định nghĩa trực tiếp sáng chế và không bảo hộ sáng chế cho các ý tưởng, giải pháp không mang tính chất kỹ thuật.
Luật SHTT của Cộng hòa Pháp4, cũng không đưa ra khái niệm sáng chế mà chỉ quy định rằng mộ giải pháp kỹ thuật có thể được cấp văn bằng bảo hộ độc quyền sáng chế bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ sở hữu sáng chế một quyền độc quyền khai thác tạm thời đối với sáng chế đó. Theo pháp luật của Pháp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể là cơ quan SHTT hoặc cơ quan có thẩm quyền được Pháp công nhận như cơ quan sáng chế châu Âu. Theo quy định tại Điều 2 của Luật sáng chế Vương quốc Bỉ5 thì: trong những điều kiện và những giới hạn đưa ra trong luật này, bằng sáng chế - một quyền khai thác độc quyền và tạm thời, sẽ được cấp cho bất kỳ giải pháp kỹ thuật đáp ứng điều kiện về tính mới, trình độ sáng tạo và áp dụng công nghiệp. Như vậy, theo quy định này thì sáng chế đã được giải thích theo các điều kiện cấp bằng sáng chế.
Nhật Bản là quốc gia được biết đến với nhiều sáng chế có tính mới đối với thế giới và được ứng dụng để làm ra nhiều sản phẩm hữu dụng hàng đầu trên thế giới. Khác với một số quốc gia công nghiệp phát triển Phương Tây kể trên, Nhật 4 Luật SHTT (1992) của Cộng hòa Pháp. 5 Luật sáng chế (1984) của Vương quốc Bỉ. 6 Bản đưa ra khái niệm sáng chế.
Điều 2, Luật sáng chế của Vương quốc Nhật Bản6, sáng chế là tự sáng tạo vượt bậc của ý tưởng kỹ thuật dựa trên việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Khái niệm này không nhắc tới tính mới và sáng tạo của giải pháp kỹ thuật, nhưng lại nhấn mạnh rằng giải pháp đó là dựa trên việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Điều 2 Luật sáng chế của Trung Quốc7 cũng định nghĩa trực tiếp sáng tạo sáng chế là các giải pháp kỹ thuật mới dưới dạng một sản phẩm, một quy trình hoặc việc cải tiến sản phẩm và quy trình đó. Theo Luật SHTT Việt Nam, sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đê xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên (Khoản 12, Điều 4).
Các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết có liên quan đến sáng chế như Công ước Paris8, Công ước thành lập Tổ chức sử hữu trí tuệ Thế giới (WIPO)9, Hiệp ước Hợp tác Sáng chế (PCT)10 và Hiệp định TRISP11 đều không định nghĩa sáng chế. Theo WIPO, sáng chế thường được định nghĩa là một ý tưởng mới cho phép giải quyết một vấn đề trong một lĩnh vực kỹ thuật mà là một giải pháp mới và sáng tạo cho một vấn đề kỹ thuật. Sáng chế có thể là việc tạo ra một thiết bị, 6 Luật sáng chế số 121 (1959) của Vương quốc Nhật Bản. 7 Luật Sáng chế (được sửa đổi năm 2008) của nước CHND Trung Hoa.
8 Công ước Paris về bảo hộ quyền SHCN (1883, sửa đổi gần nhất 1967), Việt Nam tham gia năm 1946. 9 Công ước thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) được ký tại Stockholm vào ngày 14 tháng 7 năm 1967, sửa đổi gần nhất năm 1979, Việt Nam tham gia năm 1976. 10 Hiệp định Hợp tác sáng chế - PTC ( 1970, sửa đổi 1984 và gần nhất 2001) Việt Nam tham gia năm 1993. 11 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến tương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) (1994), Việt Nam tham gia năm 2007.
7 sản phẩm, phương pháp hay quy trình hoàn toàn mới hoặc đơn giản chỉ là cải tiến một sản phẩm, quy trình đã có12. Trên cơ sở các quy định pháp lý viện dẫn trên đây, chúng ta có thể rút ra rằng sáng chế là sản phẩm, quy trình công nghệ, do con người tạo ra chứ không phải những gì đã tồn tại trong thiên nhiên được con người phát hiện ra. Thuộc tính cơ bản của sáng chế là đặc tính kỹ thuật bởi vì sáng chế là giải pháp kỹ thuật, biện pháp kỹ thuật để giải quyết một vấn đề. Sáng chế có thể được thể hiện dưới năm (05) dạng sau đây13: cơ cấu, chất, phương pháp, một vật liệu sinh học và sử dụng một cơ cấu (hoặc một chất, một phương pháp, một vật liệu sinh học) đã biết theo chức năng mới.
Có thể thấy rằng, sáng chế không phải là cái gì đó rất cao siêu, trừu tượng mà sáng chế là những giải pháp kỹ thuật rất đời thường và gắn liền với thực tiễn cuộc sống. một trong những yếu tố quan trọng để tạo ra sáng chế đó chính là óc sáng tạo, trí tưởng tượng và biết phát hiện ra nhu cầu thực tế. Nhà bác học Albert Einstein đã từng nói: “Trí tưởng tượng quan trọng hơn tri thức”. Những tri thức mà Albert Einstein có được trong học tập chỉ có thể giúp ông trở thành một sinh viên xuất sắc, còn trí tưởng tượng đã giúp ông có được những sáng chế quan trọng như năng lượng nguyên tử làm thay đổi nhận thức và tương quan lực lượng trên thế giới.
Ngoài sự sáng tạo cà óc tưởng tượng, điều quan trọng hơn để có được sáng chế là phải phát hiện ra nhu cầu thực tiễn.