Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị - Về khái niệm di trú, lao động di trú Cuốn Di dân quốc tế bản chất, xu hướng vận động và định hướng chính sách quản lý, của Doãn Hùng chủ biên, Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2013 [27] đồng nhất di dân, di trú và di cư dưới hai nghĩa. Theo nghĩa rộng di dân, di trú và di cư được hiểu đồng nhất với khái niệm “sự vận động của dân cư”, là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định.
Theo nghĩa hẹp, di dân, di trú và di cư được hiểu là quá trình di chuyển của con người gắn liền với sự thay đổi chỗ ở thường xuyên nhưng cố định của họ, bên cạnh những thay đổi vị trí, môi trường từ nơi đi tới nơi đến trong một khoảng thời gian nhất định nào đó. Cuốn Bảo đảm pháp lý thực hiện quyền của lao động di cư nội địa ở Viêt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội năm 2021 của Phạm Thị Thuý Nga (chủ biên) [39] đã tiếp cận khái niệm di cư là sự thay đổi nơi cư trú của con người, từ đơn vị lãnh thổ này tới một lãnh thổ khác trong một khoảng thời gian nhất định. Đồng thời, trước khi đưa ra khái niệm lao động di cư nội địa thì quan điểm của tác giả phải phân biệt “lao động di cư nội địa” và “lao động di trú” của Công ước số 97 về lao động di trú năm 1949 của ILO. Luận văn Thạc sĩ Luật học Bảo đảm quyền của lao động di cư từ nông thôn ra thành phố ở Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh Trâm năm 2014 [59] đã chỉ ra lao động di cư là những lao động di chuyển ra khỏi đơn vị hành chính lãnh thổ nơi sinh sống để làm việc tại đơn vị hành chính lãnh thổ mới, trong một thời gian tương đối 11 dài.
Lao động di cư từ nông thôn ra thành phố là những lao động di chuyển từ nông thôn ra thành phố trong một khoảng thời gian nhất định. Là một quá trình di chuyển từ khu vực kém phát triển hơn đến khu vực phát triển hơn. Luận văn Thạc sĩ Luật học Hoàn thiện pháp luật về quyền của người lao động di trú ở Việt Nam của Bùi Thị Hòa năm 2014 [24] đã đưa ra quan niệm về di trú và đồng nhất giữa di trú và di cư đều có nghĩa là đến ở nơi khác. Tuy nhiên, di trú mang tính tạm thời ở nơi khác, còn khái niệm di cư mang tính dứt khoát, đi ở nơi khác.
Bài viết Tổng quan về lao động di cư trong nước và những thách thức đặt ra ở Việt Nam ở Kỷ yếu hội thảo: Vấn đề pháp luật đặt ra với lao động di cư – Kinh nghiệm Việt Nam và Trung Quốc ngày 28/11/2017, trong khuôn khổ hợp tác giữa trường Đại học Luật Hà Nội và trường Luật – Đại học Vân Nam của PGS.TS Nguyễn Hữu Chí [10] cho rằng lao động di cư trong nước là người di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác trong một thời gian nhất định với mục đích lao động, làm việc. Bên cạnh đó, bài viết cũng đã chỉ ra các cách phân loại lao động di cư trong nước. Phân loại dựa trên cấp hành chính và địa bàn dân cư bao gồm: Di cư từ khu vực nông thôn đến nông thôn; Di cư từ khu vực nông thôn đến thành thị; Di cư từ khu vực thành thị đến nông thôn; Di cư từ khu vực thành thị đến thành thị. Phân loại dựa trên đội tuổi và giới tính của người di cư và phân loại theo vị trí việc làm của người lao động di cư.
Cuốn Phụ nữ di cư hành trình gian nan tìm kiếm cơ hội năm 2011 của Tổ chức Actionaid – Tổ chức Tổ chức quốc tế chống đói nghèo tại Việt Nam [64] đã phân ra thành hai loại lao động di cư: Lao động di cư làm việc tự do và Lao động di cư làm việc theo hợp đồng với người sử dụng lao động (NSDLĐ). - Về đặc điểm của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị: Cuốn Bảo đảm pháp lý thực hiện quyền của lao động di cư nội địa ở Việt Nam của Phạm Thị Thuý Nga chủ biên, Nhà xuất bản khoa học xã hội năm 2021 [39] đã khẳng định ba đặc điểm chính của lao động di cư nội địa nói chung bao gồm: Lao động di cư nội địa có những đặc điểm của nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, dễ bị lợi dụng; Số lao động trẻ thường chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động di cư nội địa; 12 Lao động di cư nội địa gặp khó khăn trong cuộc sống tại nơi đến, đặc biệt là nhóm lao động di cư nội địa thuộc khu vực phi chính thức. Cuốn Di cư trong nước cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam năm 2010 của Tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam [66] đã khẳng định: Trong khi người di cư đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam, nhiều người di cư đã sống và làm việc trong những điều kiện khiến họ trở thành một nhóm người đặc biệt dễ bị tổn thương. Trong nhiều trường hợp, sự dễ bị tổn thương này xuất phát từ việc không có khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản và điều kiện sống không đầy đủ; bị đối xử khác biệt trên thị trường lao động và từ những định kiến xã hội đối với họ.
Theo nhiều cách, so với người không di cư, mặc dù những người di cư có thu nhập cao hơn sau khi di cư, họ vẫn dễ bị tổn thương về mặt kinh tế và xã hội hơn và ít được bảo vệ hơn. Cũng theo Bài viết Tổng quan về lao động di cư trong nước và những thách thức đặt ra ở Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Hữu Chí [10], trong dòng di cư nói chung, lao động di cư cũng là nhóm người dễ bị tổn thương và bị lạm dụng cũng như chịu ảnh hưởng của các sự kiện trong đời sống kinh tế xã hội. Bài viết Chất lượng cuộc sống của thanh niên di cư đến Hà Nội làm việc trong khu vực phi chính thức, Việt Nam học - Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ tư của Ths. Bùi Thị Hạnh - PGS.
Nguyễn Thị Thiềng [23] khẳng định: Tính dễ bị tổn thương của lao động di cư thể hiện ở các khía cạnh: Tính dễ bị tổn thương trong công việc, tính dễ bị tổn thương trong tiếp cận dịch vụ công và tính dễ bị tổn thương trong đời sống sinh hoạt Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ: Quyền con người ở Việt Nam từ nhận thức lý luận đến hành động thực tiễn năm 2010 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ nhiệm [87] cho rằng: Sự tham gia không đầy đủ, trạng thái tách rời hoặc ở bên lề xã hội của nhóm di cư là một trong những điều kiện tạo ra và duy trì sự bất bình đẳng dai dẳng về xã hội trong đời sống xã hội nên tính dễ bị tổn thương của người di cư càng nhận diện rõ. 13 Báo cáo phân tích sâu của Bộ An ninh nội địa Hoa Kỳ số 130 về Xu hướng di cư nội địa và trao quyền cho phụ nữ ở Pakistan giai đoạn 2012 - 2018 [99] đề cập đến những đặc điểm cơ bản của phụ nữ di cư nội địa trong giai đoạn 2012 - 2018 bao gồm các đặc điểm chính: Chịu sự bất bình đẳng tại nơi đến; Thực hiện những công việc chủ yếu không đòi hỏi về trình độ; gặp những khó khăn về tiếp chính sách đối với người yếu thế. Đặc biệt, chính quyền và người dân nơi nhập cư vẫn có những cách nhìn tiêu cực về nhóm phụ nữ di cư nội địa. Thứ hai, các công trình nghiên cứu về quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị.
Tiếp cận đối tượng người lao động nói chung dưới góc độ QCN, phải kể đến công trình của Viện khoa học xã hội Việt Nam: Bộ sách về quyền con người được triển khai trong khuôn khổ dự án “Diễn đàn giáo dục về quyền con người” do GS. Võ Khánh Vinh chủ biên và Cuốn Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người do PGS. Nguyễn Đăng Dung và PGS.TS Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng đồng chủ biên [13]. Đây là hai công trình đưa ra quan điểm và lý luận về quyền con người nói chung và các quyền con người cụ thể trong đó có các quyền tự do cư trú, quyền làm việc, quyền hưởng an sinh xã hội, ….
Hai công trình khẳng định tính phổ biến, đặc thù và đưa ra giới hạn của quyền con người làm cơ sở để luận án có hướng tiếp cận đúng đắn. Cuốn chuyên khảo Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam của tác giả Lê Thị Hoài Thu chủ biên [57] đã chỉ ra được các quyền cơ bản của người lao động nói chung như quyền có được làm việc, quyền được đối xử công bằng trong làm việc, … Cuốn Bảo đảm pháp lý thực hiện quyền của lao động di cư nội địa ở Viêt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội năm 2021 của Phạm Thị Thuý Nga (chủ biên) [39] đã xác định nội dung quyền của lao động di cư nội địa bao gồm: Quyền an sinh xã hội cụ thể là quyền được bảo đảm thu nhập, quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, quyền được trợ giúp trong các hoàn cảnh khó khăn, quyền được tiếp cận các dịch vụ 14 xã hội cơ bản; Quyền về điều kiện sống bảo đảm; Quyền về điều kiện làm việc bảo đảm an toàn, vệ sinh; Quyền không bị phân biệt đối xử trên thị trường lao động.