Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO DAM QUYEN HỌC TẬP CUA TRE EM 1. Khái niệm trẻ em, quyền trẻ em và bảo đảm quyền học tập của trẻ em 1. Khải niệm trẻ em Con người trải qua nhiều giai đoạn trong quá trình phát triển với những đặc thù riêng của mỗi giai đoạn đó. Có nhiều tiêu chí khác nhau dé phân biệt các giai đoạn tùy thuộc vào mục đích của các lĩnh vực, trong đó phổ biến nhất là dựa trên tiêu chí độ tuôi.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới dựa vào tiêu chí độ tuổi dé phân biệt các giai đoạn phát triển của con người. Thuật ngữ "trẻ em" dùng để chỉ người chưa trưởng thành, còn non nớt về mặt thê chất, trí tuệ, dé bi ton thuong, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể ca sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời [4, tr. Tiêu chí về độ tuổi của trẻ em không có sự đồng nhất giữa các quốc gia, điều này có thể lý giải bởi điều kiện cụ thể, đặc thù của mỗi quốc gia về kinh tế, xã hội, sự phát triển thé chất,. Trong các văn kiện quốc tế, như Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ về quyền trẻ em năm 1924, CRC năm 1989 khái niệm trẻ em được sử dụng tương đối thông nhất và đều định nghĩa trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật [của các quốc gia thành viên] áp dụng với trẻ em có quy định tuôi trưởng thành sớm hơn.
Trẻ em được phân chia thành nhiều giai đoạn với thuật ngữ tương ứng, có đặc thù riêng, phù hợp với việc chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ của pháp luật trong từng giai đoạn phát triển: Trẻ sơ sinh là những đứa trẻ ở giai đoạn đầu tiên sau khi sinh ra và còn non nớt về mọi phương diện; Nhi đồng là trẻ em ở giai đoạn từ 4 đến 10 tuôi; Thiếu niên là trẻ em ở giai đoạn từ 10 đến 14 tuổi [3, tr.1571], thuật ngữ thiếu niên được đề cập đến trong năm quốc tế của trẻ năm 1985; Vị thành niên được hiểu là những người dưới 18 tuổi, thuật ngữ này nhắc đến trong Quy tắc tôi thiêu của Liên Hợp Quốc về bảo vệ quyền tự do không bị tước đoạt của trẻ em vi thành niên. Quan điểm chung của các tô chức quốc tế và của các quốc gia là trẻ em là những người chưa trưởng thành, do vậy họ không thé tu minh quyét định và hành động một cách tốt nhất, do đó, trẻ em là đối tượng được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia bảo vệ, đảm bảo quyền của trẻ em trong cuộc sống bình thường cũng như khi vi phạm pháp luật. Đối với các quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa mà có quy định riêng đối với độ tuổi trẻ em. Da số các quốc gia quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi nhưng ở một số nước có thê quy định độ tuôi kết thúc giai đoạn trẻ em thấp hơn hoặc cao hơn.
Ví dụ, ở Thụy sỹ, trẻ em là người dưới 20 tudi, ở Việt Nam, trẻ em là người đưới 16 tuổi. Uy ban về quyền con người trong Điều 1 CRC năm 1989 quy định: "Trẻ em là những người dưới 18 tuôi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng quy định tuổi trưởng thành sớm hơn”. Ở một cách hiểu khác, theo tai liệu hướng dẫn thực hiện CRC năm 1989 của UNICEF thì mốc 18 tuổi đánh dấu sự kết thúc của tuổi thơ dé trở thành người đã thành niên. CRC năm 1989 không khuyến khích hay cho phép các quốc gia thành viên hạ thấp độ tuổi tre em.
Theo đó, các quốc gia của CRC năm 1989 có thé quy định tuôi trẻ em sớm hơn nhưng phải có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của công ước CRC năm 1989 đối với người dưới 18 tuổi. Trong Bình luận chung số 4 do Ủy ban về Quyền trẻ em ban hành năm 2003 nêu rõ "Những người đến 18 tuôi là chủ thé của tat cả các quyền được nêu trong CRC năm 1989; các em được hưởng các biện pháp bảo vệ đặc biệt và có thể từng bước thực hiện các quyền phù hợp với năng lực phát triển của mình" [30, p. Dưới góc độ tâm lý hoặc pháp lý thì tuổi 18 vẫn là một hình thức của tiêu chuẩn trẻ em [34, p-6], dé đảm bao trẻ em được phat trién hoan thién nhat vé thé chat lẫn tinh than, theo các quy định quốc tế và kinh nghiệm chung thé giới, theo học viên, nên định nghĩa trẻ em: "Trẻ em là người đến 18 tuổi". Điều 1 năm 1989 là kết quả của một thỏa thuận quốc tế về trẻ em.
Thỏa thuận này là nhân tố quyết định gan chặt quyền của trẻ em và những bù đắp pháp lý có thé sử dụng được cho trẻ em với tư cách là một bộ phận cua xã hội [31, p. Quyền tré em, quyền học tập của trẻ em, bảo đảm quyền học tập của trẻ em 1. Quyên trẻ em "Quyên" theo nghĩa phổ quát là lẽ công bằng, chính đáng, một người được làm, được hưởng, được từ bỏ và được yêu cầu, đòi hỏi chủ thể khác phải tôn trọng, thực hiện hay đảm bảo cho mình [9, tr. Quyền con người được hiểu là nhu cầu và lợi ich bam sinh, vốn có mà mọi thành viên của nhân loại đều được hưởng, mà không chịu bất kỳ sự tước bỏ, hạn chế, tùy tiện bởi bất kỳ chủ thé nao, ké cả nhà nước [9, tr.
Trẻ em cũng là con người, là một phần của nhân loại, của xã hội và vì vậy quyền trẻ em là quyền con người hay quyền con người của trẻ em, điều này được khẳng định trong các văn kiện quốc tế về quyền con người "Moi người đều có quyén. Quyền của trẻ em có một số sự khác biệt đối với quyền của người lớn, điều này xuất phát từ việc trẻ em còn non nớt về mặt thé chat và tinh thần, do đó, trẻ em có những quyền mà người lớn không có (quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng.) và ngược lại trẻ em cũng chưa được thực hiện các quyền mà chỉ người lớn mới có (quyền bau cử, ứng cử.) Tuy nhiên, định nghĩa quyền trẻ em hay sự phát triển về quyền trẻ em lại phụ thuộc vào sự phát triển trong nhận thức của nhân loại và được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau: - Tình thương: Trẻ em được coi như đối tượng được hưởng tình thương của người lớn và xã hội. Trẻ em là đôi tượng được hưởng sự ưu ái của xã hội chưa phải là chủ thể của quyền tương xứng như người lớn và mang tính chất thụ động, phụ thuộc vào người lớn. Trong cách tiếp cận này, việc tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng và giải pháp giải quyết các vấn đề về quyền trẻ em chưa phải là nghĩa vụ của người lớn, của xã hội.
- Nhân đạo: Trẻ em được xem là đối tượng cần được bảo vệ. Cách tiếp cận nay chu yếu tập trung vào việc bảo vệ trẻ em khỏi tình trạng nguy hiểm, vì vậy, nó không phán ánh được đầy đủ đối tượng được hưởng quyền là tất cả trẻ em. Quan niệm này chỉ thuần túy là vì lòng nhân đạo, vì vậy, việc bảo vệ trẻ em, bảo đảm quyên trẻ em chưa là nghĩa vụ của người lớn, của cộng đồng. - Phát triển: Trẻ em là đối tượng cần phải có các điều kiện thích hợp để sống còn, phát triển và trưởng thành, trở thành những công dân có ích, có năng lực như người lớn.
Như vậy, quan điểm phát triển đảm bảo trẻ em là chủ thể có quyền tương xứng như người lớn. Khi xem xét quyền trẻ em từ quan điểm của người lớn dẫn đến các quyền gắn với đặc thù về sự phát triển tinh thần, thể chất không được tiếp cận, xem xét dẫn đến một số quyền không phù hop với trẻ em và một số quyền trẻ em không có, có thé gây tôn hại cho sự phát triển của trẻ. - Sự song còn và phát triển: Trẻ em được xem là chủ thé của quyền tương xứng như người lớn và được hưởng các quyên riêng có do đặc điểm còn non not và thé chat và tinh thần. Do đó, quyền trẻ em cần được ghi nhận và thực hiện theo cách thức phù hợp với đặc thù của trẻ, nhằm đảm bảo cho sự song con va phat triển toàn diện của trẻ [9, tr.
Như vậy, quyền trẻ em cần được tiếp cận từ quan điểm về sự sống còn và phát triển. Trẻ em cần được xem là chủ thể có quyền tương xứng như người lớn với những đặc điểm riêng là non not về thé chat và trí tuệ. Pháp luật quốc gia sử dụng thuật ngữ "Công dân" để đề cập đến quyền và nghĩa vụ của các cá nhân bao gôm cả người lớn và trẻ em. Vì vậy, trẻ em cũng phải có 10 quyền như những người trưởng thành, phẩm giá và vị thế của một con người không chỉ bắt đầu khi người đó đến tuôi trưởng thành mà bắt đầu khi người đó được sinh ra [31, p.
Xem xét quyền con người của trẻ em cần phải dựa trên các đặc điểm và nhu cầu của trẻ em: - Trẻ em chủ yếu phụ thuộc vào người lớn, chưa đủ khả năng thể hiện và bảo vệ đầy đủ quyền của mình, do đó, gia đình và xã hội phải tạo điều kiện tốt nhất dé bảo vệ trẻ em. - Trẻ em có những quyền đặc thù để đảm bảo cho sự phát triển bình thường, vì vậy, quyền của trẻ em được quy định riêng trong các văn kiện quốc tế. - Giới hạn về quyền con người của trẻ em chỉ được nhằm mục đích bảo đảm sự phát triển bình thường của trẻ và sự vận động của toàn xã hội. Trên cơ sở các phân tích trên đây, có thể định nghĩa quyền trẻ em: quyên trẻ em là tất cả nhu cầu và lợi ich bam sinh vốn có dé trẻ em được sống và phát triển lành mạnh và an toàn.
Định nghĩa này cơ bản đã bao quát được các khía cạnh liên quan đến quyền trẻ em, cụ thê là: Thứ nhất, trẻ em còn non nớt về thể chất và trí tuệ, là đối tượng dễ bị tốn thương, vì vậy, cần có giải pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em trước những nguy cơ có thể ảnh hưởng tới trẻ, đảm bảo sự phát triển bình thường và mang lại lợi ích tốt nhất cho trẻ. Thứ hai, trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng, tạo điều kiện dé phát triển bởi gia đình, xã hội; việc tiếp cận với trẻ em phải dựa trên quyền trẻ em trẻ.