Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT 1. Khái niệm chung 1. Khái niệm bảo đảm Có nhiều quan niệm khác nhau về bảo đảm. Theo Từ điển Tiếng Việt, bảo đảm nghĩa là chăm sóc, giữ gìn nhiệm vụ, nghĩa rộng hơn là đoán chắc về điều gì đó.
Cũng có thể hiểu bảo đảm là gánh vác hoặc có nhiệm vụ giữ gìn, chăm sóc một đối tượng nhất định. Bảo đảm cũng có thể được hiểu là tạo điều kiện để chăm sóc, giữ gìn hoặc thực hiện một nhiệm vụ, yêu cầu nhất định. Trong thực tiễn của đời sống xã hội, chúng ta thường đề cập đến các vấn đề như bảo đảm, phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội… Bảo đảm cũng có thể được hiểu là việc tuân theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật, đạt được các mục tiêu và điều kiện đề ra. Ý nghĩa của từ bảo đảm ở đây còn mang tính quyền lực nhà nước, thể hiện trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của các tổ chức trong việc bảo đảm tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Ở một nghĩa khác, bảo đảm còn gắn với tính chịu trách nhiệm về những cam kết của mình, bảo đảm cho những cam kết đó được thực hiện. Khi khái niệm bảo đảm gắn với trách nhiệm thường bao gồm cả những chế tài nếu không thực hiện những cam kết đó. Như vậy, khái niệm bảo đảm sẽ gắn liền với trách nhiệm ở cách hiểu này và khi các bảo đảm không thực hiện được, sẽ kèm theo là các trách nhiệm, chế tài pháp lý. Từ những khái niệm bảo đảm trên, có thể rút ra khái niệm bảo đảm là tất cả các biện pháp, phương hướng để bảo đảm cho quyền lợi và nghĩa vụ 9 thực hiện một cách đúng đắn, đầy đủ.
Các biện pháp pháp lý có thể bao gồm các chế định, qui định của pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện các nội dung, nhiệm vụ, kế hoạch, quy định của pháp luật được thực hiện thông suốt và bảo đảm việc xử lý các trường hợp vi phạm theo qui định của pháp luật. Khái niệm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân Đảm bảo sự tham gia của nhân dân trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội nói chung và công tác xét xử của Tòa án nói riêng là yêu cầu quan trọng trong một nhà nước tiến bộ. Ở các nước theo hệ thống thông luật, có chế định về Bồi thẩm đoàn. Ở những nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, Hội đồng xét xử có thể bao gồm Thẩm phán chuyên nghiệp và Thẩm phán không chuyên nghiệp hoặc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.
Nói chung, hình thức thể hiện việc nhân dân tham gia công tác xét xử của Tòa án cũng có sự khác nhau ở mỗi nước. Ở nước ta, việc nhân dân tham gia hoạt động xét xử của Tòa án được thể hiện tập trung nhất thông qua chế định về Hội thẩm nhân dân. Chế định Hội thẩm là sự bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án, thể hiện bản chất nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Đây là một chế định được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013.
Hội thẩm bằng sự tham gia của mình vào Hội đồng xét xử mà thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua đó để nhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào công tác quản lý Nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng. Chính bằng hoạt động xét xử, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi 10 phạm pháp luật khác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định của pháp luật. Tại Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1.Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm…4.
Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số…”. Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia, Điều 8 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (viết tắc Luật TCTAND), quy định: “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm tham gia theo quy định của luật tố tụng, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.” Và khoản 1 Điều 9 của Luật này quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào”. Ngoài ra, Điều 85 Luật TCTAND có quy định về tiêu chuẩn Hội thẩm như sau: “1. Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực.
Có kiến thức pháp luật. Có hiểu biết xã hội. Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao”; Riêng về thủ tục bầu, cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm; nhiệm kỳ của Hội thẩm; trách nhiệm của Hội thẩm được quy định tại các điều 85, 87, 89 Luật TCTAND. 11 Là một nguyên tắc Hiến định nên nếu việc xét xử của Tòa án mà không có Hội thẩm tham gia thì sẽ không chỉ là vi hiến mà còn vi phạm nghiêm trọng phạm pháp luật tố tụng.
Ngay cả khi Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bảo đảm đủ số lượng 03 thành viên (01 Thẩm phán, 02 Hội thẩm), nhưng một trong hai Hội thẩm đó không phải là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, khi bị cáo trong vụ án đó là người chưa thành niên thì cũng bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và chắc chắn rằng bản án, quyết định của Hội đồng xét xử vụ án đó bị hủy để xét xử lại. Bởi việc tham gia và tham gia đúng thành phần của Hội thẩm giúp cho Tòa án xét xử không chỉ đúng pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Khi được cử hoặc bầu làm Hội thẩm, họ hoàn toàn không tách khỏi môi trường công tác, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu (đối với Hội thẩm quân nhân); hoạt động tại cơ quan, lao động sản xuất tại doanh nghiệp (đối với Hội thẩm nhân dân) và với vốn hiểu biết thực tế, trải nghiệm trong cuộc sống, với sự am hiểu về phong tục tập quán ở địa phương, Hội thẩm sẽ bổ sung cho Thẩm phán những kiến thức xã hội cần thiết trong quá trình xét xử để từ đó Hội đồng xét xử có cơ sở đưa ra phán quyết đúng pháp luật, được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ. Cùng với Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội thẩm khi được phân công tham gia xét xử vụ án, thì Hội thẩm được xác định là một trong những người tiến hành tố tụng tại Tòa án.
Khi được phân công giải quyết vụ án thì Hội thẩm có các nhiệm vụ như: nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa; tham gia xét xử vụ án theo thủ tục sơ thẩm (riêng đối với vụ án hình sự thì Hội thẩm có thể tham gia xét xử theo thủ tục phúc thẩm trong trường hợp cần thiết); tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình. Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành 12 quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm: 01 Thẩm phán và 02 Hội thẩm; trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng thì Hội đồng xét xử có thể gồm 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm. Với các quy định nêu trên thì Hội thẩm có vai trò rất quan trọng trong công tác xét xử, vì khi tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm, Hội thẩm chiếm đa số trong Hội đồng xét xử (2/3 hoặc 3/5) và khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết các vấn đề nghị bàn khi Hội đồng xét xử nghị án, mà không có bất kỳ sự lệ thuộc nào.
Nếu như, khi nghị án ý kiến biểu quyết của các Hội thẩm là giống nhau và khác với ý kiến của Thẩm phán thì quyết định của Hội đồng xét xử phải theo ý kiến của đa số, dù Thẩm phán là người đã từng làm công tác xét xử lâu năm, có nhiều kinh nghiệm, đạt đến trình độ chuyên nghiệp thì cũng chỉ có quyền bảo lưu ý kiến của mình trong Biên bản nghị án, sau đó báo cáo lại Chánh án nơi Tòa án mình đang công tác, đề nghị Tòa án cấp trên xem xét. Hội thẩm được Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu để tham gia xét xử tại TAND ở địa phương đó gọi là Hội thẩm nhân dân; Hội thẩm được Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân khu và tương đương cử theo đề nghị của các đơn vị thuộc quyền trên địa bàn gọi là Hội thẩm quân nhân cấp Khu vực, Hội thẩm được Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cử theo đề nghị của cơ quan chính trị cấp quân khu và tương đương gọi là Hội thẩm quân nhân cấp Quân khu. Hội thẩm nhân dân là các công chức, viên chức nhà nước kiêm nhiệm hoặc đã nghỉ hưu; Hội thẩm quân nhân là cán bộ, sĩ quan công tác tại các cơ quan đơn vị đóng quân trên địa bàn, mà Tòa án quân sự đó đảm nhiệm. Từ những cơ sở trên ta có khái niệm Hội thẩm như sau: Hội thẩm nhân dân là Người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Hội thẩm dân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, đồng thời, cũng do 13 Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp sau khi thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.