phần Mở đầu và Kết luận, bản Luận văn đƣợc thiết kế gồm có 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ TRẢ NỢ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI LUẬN VỀ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ TRẢ NỢ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Bản chất và vai trò của giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1. Bản chất của giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Không thể phủ nhận rằng cho vay là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại.
Trong pháp luật hiện hành, cho vay đƣợc định nghĩa “là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [15, Khoản 1 Điều 3]. Trong quan hệ cho vay, do ngân hàng phải chuyển giao tiền vay cho ngƣời vay sử dụng trong một thời hạn nhất định và chỉ có thể đòi nợ ngƣời vay cả gốc và lãi khi đến hạn nhƣ cam kết nên chính điều này dẫn đến những nguy cơ rủi ro tín dụng cho các ngân hàng. Để ngăn ngừa và phòng chống những rủi ro này, các ngân hàng luôn tìm cách áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, chẳng hạn nhƣ việc thẩm định thật kỹ lƣỡng các hồ sơ tín dụng trƣớc khi quyết định cho vay, quản trị dự án đầu tƣ một cách hiệu quả trong quá trình cho vay và đặc biệt là việc áp dụng cơ chế bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay bằng tài sản của chính ngƣời vay hoặc của ngƣời thứ ba. Trên thực tế, biện pháp này đã đƣợc hầu hết các ngân hàng trên thế giới áp dụng nhằm ngăn ngừa và phòng chống các rủi ro tín dụng.
Về lý thuyết, khi nghĩa vụ trả nợ của khách hàng trong quan hệ cho vay đƣợc bảo đảm bằng tài sản thì quan hệ đó đƣợc gọi là cho vay có bảo đảm bằng tài sản. Trong lịch sử kinh doanh của các ngân hàng, cho vay có bảo đảm bằng tài sản luôn đƣợc xem là hình thức cho vay phổ biến nhất, bởi lẽ nó giúp cho các ngân hàng hạn chế đƣợc phần lớn các rủi ro tín dụng và góp phần đƣa các ngân hàng đến sự phát triển thịnh vƣợng nhƣ ngày nay. Sự bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tiền vay, vì 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế đã trở thành mối quan tâm sâu sắc của hầu hết các ngân hàng trên thế giới trong suốt hàng trăm năm qua. Cần phải hiểu nhƣ thế nào về bản chất của sự bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại? Theo Từ điển luật học, sự bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền vay, hay còn gọi là bảo đảm tiền vay, đƣợc định nghĩa là “biện pháp đƣợc sử dụng để bên cho vay thu hồi nợ trong trƣờng hợp bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hoàn trả tiền vay” [22, tr.
Còn theo quy định của pháp luật hiện hành thì khái niệm bảo đảm tiền vay đƣợc định nghĩa là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi đƣợc các khoản nợ đã cho khách hàng vay [11, Khoản 1 Điều 2]. Xét từ góc độ kinh tế, sự bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay là một biện pháp mang tính kinh tế, trong đó bên chủ nợ (ngân hàng) dùng giá trị tài sản của ngƣời vay hoặc của ngƣời thứ ba để khấu trừ nghĩa vụ. Nói khác đi, việc bảo đảm bằng tài sản của chính ngƣời vay hoặc tài sản của ngƣời thứ ba sẽ tạo cơ sở kinh tế vững chắc cho việc khấu trừ nghĩa vụ của ngƣời vay đối với ngân hàng. Xét từ góc độ này, biện pháp bảo đảm tiền vay chỉ có ý nghĩa khi tài sản đem bảo đảm có khả năng phát mại dễ dàng và giá trị tài sản bảo đảm đủ lớn để thanh toán hết số nợ vay cho ngƣời chủ nợ là ngân hàng.
Việc tiếp cận khái niệm bảo đảm tiền vay từ góc độ kinh tế có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, không chỉ trong việc ban hành pháp luật về bảo đảm tiền vay mà cả trong quá trình áp dụng các quy định này vào thực tiễn cho cho vay của ngân hàng thƣơng mại. Xét từ góc độ pháp lý, bảo đảm tiền vay có bản chất là một quan hệ pháp luật mà hệ quả pháp lý của việc xác lập quan hệ đó là tạo ra quyền ƣu tiên cho một bên, gọi là bên nhận bảo đảm - bên có quyền, trong việc theo đuổi các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho mình; đồng thời, cũng tạo ra các nghĩa vụ cho bên bảo đảm trong việc giúp đỡ bên nhận bảo đảm thực hiện quyền ƣu tiên của mình trên tài sản bảo đảm. Trong khoa học pháp lý cũng nhƣ trong pháp luật thực định ở nhiều nƣớc, ngƣời ta chấp nhận rằng sự bảo đảm cho một nghĩa vụ dân sự nói chung và nghĩa vụ trả nợ tiền vay nói riêng có thể đƣợc xác lập bằng một hợp đồng (gọi là hợp đồng bảo đảm) hoặc bằng các quy định sẵn có 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của pháp luật, thậm chí đƣợc xác lập theo quyết định của Toà án. Chẳng hạn, theo Điều 2116 BLDS Pháp, quyền thế chấp trên một bất động sản có thể đƣợc xác lập theo luật định, theo quyết định của Toà án hoặc theo thoả thuận giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm.
Tuy nhiên, trong thực tiễn giao dịch ngân hàng, sự bảo đảm cho các nghĩa vụ trả nợ tiền vay trong hợp đồng tín dụng thƣờng đƣợc xác lập bằng một thỏa thuận giữa chủ tài sản (ngƣời vay hoặc ngƣời thứ ba) và bên cho vay là ngân hàng thƣơng mại - chủ nợ, theo đó chủ tài sản cam kết để bên chủ nợ là ngân hàng đƣợc quyền ƣu tiên đòi nợ ngƣời vay từ số tiền bán tài sản bảo đảm. Với cam kết này, chủ tài sản đã đặt mình vào tình trạng bị hạn chế về quyền định đoạt đối với các tài sản đem bảo đảm, đồng thời chấp nhận dành cho bên chủ nợ là ngân hàng quyền đƣợc ƣu tiên theo đuổi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, bất luận tài sản đó nằm trong sự quản lý hay cầm giữ của ai. Nhƣ vậy, xét về khía cạnh pháp lý, sự bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền vay bằng tài sản tuy có thể đƣợc thiết lập bằng nhiều cách khác nhau nhƣng cách chủ yếu vẫn là thông qua một hợp đồng giữa một bên là chủ tài sản (có thể là chính bên vay hoặc ngƣời thứ ba) với bên kia là chủ nợ - ngân hàng. Giao dịch bảo đảm này tạo ra cơ sở pháp lý cho việc ngân hàng đƣợc ƣu tiên thanh toán nợ từ tài sản bảo đảm, so với các chủ nợ khác không đƣợc bảo đảm bằng tài sản đó.
Nói cách khác, giao dịch bảo đảm tiền vay đem đến cho ngân hàng khả năng pháp lý trong việc kiểm soát tài sản bảo đảm tiền vay (cho dù ngân hàng không phải là chủ tài sản), khả năng chi phối đối với quyền định đoạt tài sản bảo đảm và khả năng đòi nợ trƣớc các chủ nợ khác - những ngƣời không đƣợc bảo đảm bằng tài sản đó, từ số tiền bán tài sản bảo đảm. Ở mức độ khái quát, có thể cho rằng bảo đảm tiền vay thực chất là một loại hình cụ thể của bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, vì thế, giao dịch này có đầy đủ các dấu hiệu và thuộc tính cơ bản của giao dịch bảo đảm nghĩa vụ dân sự. Những dấu hiệu này phản ánh bản chất của giao dịch bảo đảm nói chung và giao dịch bảo đảm tiền vay nói riêng, bao gồm: Thứ nhất, giao dịch bảo đảm tiền vay tạo ra hệ quả pháp lý là: một mặt, hạn chế quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với các tài sản bảo đảm của chủ sở hữu tài sản; mặt khác, thiết lập cho bên chủ nợ - bên nhận bảo đảm là ngân hàng quyền đƣợc ƣu tiên theo đuổi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, so với các chủ nợ khác 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đây là đặc điểm quan trọng nhất phản ánh rõ nét bản chất của giao dịch bảo đảm nghĩa vụ dân sự nói chung và giao dịch bảo đảm tiền vay nói riêng.
Nếu không có thuộc tính này, sự bảo đảm bằng tài sản sẽ không còn nhiều ý nghĩa nữa trong việc bảo đảm thi hành nghĩa vụ của ngƣời có nghĩa vụ đối với chủ nợ. Đặc điểm này cho phép phân biệt quyền của chủ nợ có bảo đảm với quyền của chủ nợ không có bảo đảm trong quá trình chiếm hữu, quản lý, theo đuổi tài sản và bán tài sản để thu hồi nợ. Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, khi giao dịch bảo đảm đƣợc thiết lập, chủ nợ có bảo đảm sẽ có quyền ưu tiên theo đuổi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, bất luận tài sản đó đang nằm trong tay ai, trong khi các chủ nợ không đƣợc bảo đảm bằng tài sản đó không có quyền này. Đƣơng nhiên, cần lƣu ý rằng việc thiết lập một giao dịch bảo đảm giữa chủ nợ với chủ tài sản (có thể là con nợ hoặc ngƣời thứ ba) đối với một khối tài sản bảo đảm cụ thể nào đó, không hề ngăn cản chủ nợ này thực hiện quyền yêu cầu Toà án cho phép kê biên, phát mại các tài sản khác không phải là tài sản bảo đảm của con nợ, với tƣ cách là chủ nợ không có bảo đảm, nếu khối tài sản đem bảo đảm không đủ để thanh toán nợ cho chủ nợ này.
Đây chính là nội dung của nguyên tắc mọi tài sản của con nợ đều được sử dụng để thanh toán cho các chủ nợ của họ [19, tr.