CHƯƠNG 1: BÍ iÍVỈ Hổ HT chọi lại những chủ thuyết tư tưởng đã hình thành chính thức.Látxuên cho rằng, điểu đặc biệt quan trọng là cẩn xem xét cái gọi là ý thức “hiện thực”, “thực tế”, “đại chúng”, “chan hòa”. Đó chính là sự khác biệt của thuyết thông tin đại chúng so với “xã hội học trí thức” của châu Âu.Mectơn đã nói rõ, “nếu người châu Âu phân tích ý thức hệ của các phong trào chính tri, thì người Mỹ nghiên cứu ý kiến của cử trị và của những người không tham gia bỏ phiếu”.Látxuên đã để ra cho mình mục tiêu khám phá sự lưu thông của các luông thông tin đại chúng dưới hình thức những mắt xích tuần tự của một cơ cấu chung. Ông đã nhìn thấy ở thông tin một quá trình có những chức năng xã hội, một cấu trúc bên trong và một định hướng chung, và ông đã cố gắng đưa ra một sự mô tả chỉnh thể về các biện tượng thông tin đại chúng. Látxuên xem các luôổng thông tin là những mô hình về tất cả các quá trình xã hội.
"Theo cách lý giải ấy thì tổng hợp các quan hệ xã hội phức tạp được đơn giản hóa thành một hệ thống các dòng chảy thông tin đại chúng. Látxuên cho rằng, những mâu thuẫn xã hội xuất hiện là do thông tin phổ biến không đồng đều. Vì vậy, nguyên tắc “giáo dục đồng đẳng” phải giúp cho những người nắm vững các nghề khác nhau, trình độ kiến thức nghề nghiệp và kỹ thuật khác nhau, để họ nhận thức rõ và đi đến 23 BÍ CH HIG 891 RUDE Noa, NAUTS UY lý: Ui nowic LY sự thỏa thuận về những vấn để liên quan đến toàn thế giới, bởi vì “mục đích của xã hội dân chủ là giáo dục như nhau cho. chuyên gia, cho nhà lãnh đạo và cho công đân”.Gavra, phụ trách bộ môn lý luận thông tin của Trường Đại học Tổng hợp quốc gia Xanh Pêtécbua đã đưa ra một ý tưởn g đáng chứ ý.
Tại cuộc hội thảo khoa học - thực tế thường kỳ và có tên gọi “Thế kỷ thông tin” được tiến hành ngày 20-12-2000, vị giáo sư này đã đọc bản báo cáo “Hiệu quả của các nguồn thông tin”. Báo cáo chỉ rõ, sự quan tâm đến việc nghiên cứu các nguồn thông tin không phải là điểu mới lạ. Những vấn để cơ bản mà chúng ta đưa ra khi bắt tay xem xét những nguồn thông tin ấy, có thể được lý giải đại thế như sau: “Các nguồn thông tin ảnh hưởng như thế nào đến công chúng? Những đặc trưng nào của các nguồn thông tin lam cho những tác động có tính chất thuyết phục của chúng trở nên hữu hiệu hơn?”. Lịch sử của thông tin đại chúng đã chứng kiến không ít những cố gắng đưa ra lời giải đáp cho những câu hỏi ấy.
Chẳng hạn, Arixtốt, khi xem xét bài phát biểu trước công chúng, đã tập trung chú ý không phải là nội dung của bài phát biểu ấy, mà vào nhữn đặc trưng của diễn giả và “tư cách” của diễn giá ấy. Arixtốt cho rằng, một người cung cấp thông tỉn hữu hiệu - nếu ta dùng ngôn ngữ hiện đại - phải có sự nhạy cảm về sự 24 chƯươnG 1: BúI th tú ế đt cảm nhận của công chúng, một ý chí mạnh mẽ và những phẩm chất đạo đức xứng đáng. Theo ý kiến của Makiavêli, người cung cấp thông tin là người có uy tín trong lĩnh vực hoạt động của mình, có năng lực che giấu (ngụy trang) ý đồ thuyết phục (và thuyết phục lại) công chúng của mình, một người có uy tín xã hội cao. Không gì có thể làm yên lòng đám đông bị phấn kích bằng sự khâm phục của đám đông ấy khi đứng trước một đấng trượng phu đẩy uy tín và khả kính.
Vì vậy, người đứng đầu quân đội hoặc người đứng đầu tòa thị chính của một thành phố đang chuẩn bị nổ ra một cuộc bạo loạn thì, muốn nắm được quyên lực và có được sự nể trọng, phải xuất hiện trước đám đông với tất cả vẻ hấp dẫn và phẩm giá có thế có, với tất cả những đặc điểm, cá tính bên ngoài địa vị của mình. Người nào đã từng tổ ra là người tốt trong một thời gian và giờ đây, vì những mục đích của mình, muốn trở thành người xấu thì nên làm việc ấy một cách từ từ và theo kiểu chứng tỏ rằng người ấy bị đấy đến sự thay đổi ấy hoàn toàn chỉ vì hoàn cảnh bắt buộc. Thực ra, trong lịch sử chưa bao giờ có một nhà lập pháp sáng giá nào lại không sử dụng sức mạnh của uy tín thần thánh vì nếu không thế (nghĩa là đằng sau đạo luật đưa ra không có một con người có uy tín) thì các đạo luật đã không được nhân dân công nhận. Đối với Goebbels, Bộ trưởng Thông tin của bọn 25 CHƯƠNG 1: BAO CH Ud RO HEL tính - sự thật, hấp dẫn và quyền lực.
Những đặc tính khác như sự năng động, khả năng giao tiếp, tính độc đoán, đều chỉ là những khía cạnh thuần tuý báo chí trong hoạt động của các phương tiên thông tin đại chúng, ngôn ngữ và văn phong của bài vở cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của nguồn thông tin, nhưng người ta quen xem chúng là những tham số thứ yếu. Tính sự thật, một mặt, là thước đo uy tín của nguồn thông tin, nghĩa là năng lực trả lời “đúng đắn” của nguồn thông tin; mặt khác, chứng tỏ nguôn thông tin ấy không mang định kiến, tức là không có ý định điểu khiển công chúng vì những lợi ích riêng của mình. Sự cảm nhận uy tín của nguồn thông tin phụ thuộc vào những nhân tố như trình độ đào tạo, kinh nghiệm, năng lực, trí tuệ, những thành tựu chuyên môn và quy chế xã hội. Để nguồn thông tin được xem là đáng tin cậy thì nó không chỉ cung cấp thông tin chính xác và khách quan, mà còn phải gây được ấn tượng rằng nó không có ý định thuyết phục người tiếp nhận tin vào điều mà chính nó có lợả, nó không có ý định điều khiển những người tiếp nhận thông tin.
Hấp dẫn - đó là những nguồn thông tín phù hợp với người tiếp nhận về phương diện nhân khẩu học và (hoặc) về ý thức hệ. Những nguồn thông tin ấy cũng phải dễ chịu và quen thuộc. Nhân tố then chốt khiến cho nguồn thông tin 27 BAO CHiHIGN O91 TU 88): NHI RUV TC Uì REHICH Le nhận được cảm tình của công chúng là cơ sở tâm lý. Người ta ưa thích những nguồn thông tin ban thưởng cho mọi người những cảm xúc tích cực.
Trong văn cảnh nói ở đây; sự ban thưởng ấy là sự giảm nhẹ mức độ lo ngại, tháo BỠ sự căng thẳng, giảm bớt cảm giác về sự cô đơn và nguy hiểm. Thành tế khác của sự ban thưởng là thành tế tích cực, nó được thực hiện bằng cách dam bảo cho người tiếp nhận thông tin có được cảm giác về sự hậu thuẫn xã hội và sự tán đồng của những người khác. Quyển lực, đó là những nguồn thông tin có thể ban thưởng hoặc trừng phạt những người tiếp nhận nó. Những nguồn thông tin ấy mong muốn công chúng chịu sự tác động của nó và nó có khả năng kiểm soát được quá trình ấy.
Đúng sự thật và tính đáng tin cậy của nguồn thông tin dẫn đến sự liên kết thống nhất các ý kiến mới, đảm bảo tính hấp dẫn và sự lắng nghe của quần chúng trước tác động của nguồn thông tin có quyền lực. Đánh giá đúng mức chức năng thông tin và điểu khiển của báo chí, nhiều nhà nghiên cứu xem các phương tiện thông tin đại chúng là “quyển lực thứ tự”. Bên cạnh quyền lập pháp, quyên hành pháp và quyển tư pháp quyết định vận mệnh của các quốc gia và các dân tộc, báo chí chỉ có thể trở thành quyển lực thứ tư trong một xã hội dân chủ đích thực, trong đó nhân 28 crVONG 1: BAO CHUA RE HO dân không chỉ tham gia vào quá trình chính trị, mà còn có thể ảnh hưởng tích cực đến thông tìn được phổ biến. Nhà nghiên cứu báo chí người Pháp Giăng Lui Servan Srailơ trong cuốn sách Quyên lực thông tin của mình đã đặc biệt nhấn mạnh rằng việc xây dựng cơ sở kỹ thuật của các phương tiện thông tìn đại chúng và “sự sụp đổ của các vương quốc cực quyền và các đế chế đã làm xuất hiện ở mọi nơi - nếu không phải nhờ vũ lực - cái mốt là tự do tự thể hiện.
Như vậy, rốt cuộc đã chín muổi toàn bộ tổng thể những điều kiên vật chất và chính trị cho sự bùng nổ thông tín và điễn ra một cuộc cách mạng trong lối suy nghĩ và hành động của con người”. Nhà nghiên cứu người Thụy Điển Erich Bagiéctam cũng đã chỉ rõ: “báo chí nghiêm túc nghiên cứu các vấn để quyển lực và thực tiễn vận dụng quyển lực, mà bản thân nó lại là thứ quyền lực cân bằng và kiểm soát? Quốc bội nắm quyền lực cao nhất trong một quốc gia, chính phủ đứng thứ hai, thứ ba là tòa án độc lập và các diễn đàn nhân dân. Ở một số nước, những diễn đàn này bảo vệ quyển lợi của công luận chống lại sự lộng hành của các nhà cầm quyên. Báo chí và các nhà báo độc lập - với hệ thống các quy định, nguyên tắc đạo đức của mình - là quyển lực thứ tư.
Vận dụng tất cả các quyển và quyển tự do mà 29 BAO CHi én BRI NUEC NON. AKUAG Quu Tae UA ABRICH LY nên dân chủ ban tặng, bản thân báo chí xác lập chuyên chính cua minh.Mécme đã đánh giá như vậy về quyển lực vạn năng của báo chí và năng lực của nó trong việc điều khiển dư luận xã hội. Ông đã áp dụng thuật ngữ “dân quyển”. Theo ý kiến của E.
đơ Viriê, sự kiểm soát các quá trình thông tin tạo ra “quyền lực thông tin”, Ông này đặc biệt nêu rõ rằng “trong điều kiện tồn tại quyền lực thông tin thì nhân dân vẫn có chủ quyển nhưng vai trò của nhân dân đã thay đổi; trong chiến dịch vận động bầu cử, không phải lá phiếu của nhân đân, mà là ý kiến của nhân dân mới có trọng lượng. Trong xã hội hình thành “những tam giác”: “Chính phủ - thông tin đại chúng - công luận”, “tri thức - thông tin dai chung - hoc sinh”, v. Những khả năng vô tận của báo chí thường hay được mình họa bằng những sự kiện kiểu “Oatoghét”, khi mà nhờ lập trường của phương tiện thông tin đại chúng ở Hoa Ky, sw ti chite của Tổng thống R.Níchxơn mới có thể diễn ra. Nhưng cũng có thể có cả phản luận cứ: tờ 7be Washington Post da lat tay Ronan Rigân về những hành vi không đẹp mắt, cũng như vậy, nhưng vụ “Rigânghêt” đã không thành.