MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang là một vấn đề được toàn cầu quan tâm, đây là một thách thức lớn đối với nhân loại trong thế kỷ XXI. Sự gia tăng các rủi ro từ BĐKH làm gia tăng khả năng tổn thương đối với sinh kế, chất lượng cuộc sống…, đặc biệt tại những khu vực mà hoạt động kinh tế xã hội (KT - XH) phụ thuộc phần lớn vào tài nguyên thiên nhiên như các vùng nông thôn, ven biển. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH (World bank, 2010) do có bờ biển dài, dân cư tập trung đông và phần lớn các hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, khai thác tài nguyên và lâm nghiệp (Đặng Nam Phương & cs.
Và được đánh giá là quốc gia đứng thứ 13 trên thế giới bị chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan trong giai đoạn từ 2000 - 2019 (Nguyễn Thị Bích Yên & cs. Ở Việt Nam, BĐKH không chỉ ảnh hưởng đến vùng ven biển và đồng bằng mà ngày nay còn ảnh hưởng và có nhiều rủi ro thiên tai hơn đến các vùng miền núi phía Bắc (UNDP & IMHEN, 2015). Hầu hết người dân ở khu vực miền núi phía Bắc có cuộc sống gắn liền với sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, trình độ dân trí hạn chế, kỹ thuật canh tác lạc hậu, cơ sở hạ tầng kém phát triển và giao thông đi lại khó khăn đều có những tác động ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương (DBTT) với khí hậu nơi đây (Nguyen Thi Lan Huong & cs.
Huyện Văn Yên là một huyện miền núi phía Bắc thuộc tỉnh Yên Bái chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai, đặc biệt là mưa lớn kết hợp với điều kiện địa hình phức tạp gây ra sạt lở đất, lũ lụt, lũ quét và hạn hán (Đặng Thị Hà & cs., 2018; BCH PCLB và TKCN huyện Văn Yên, 2021) nên rất DBTT trước những tác động của BĐKH. Việc nghiên cứu tính DBTT trong bối cảnh biến BĐKH góp phần giải quyết nhu cầu cho việc thích ứng là vấn đề được nhiều nhà khoa học và 1 quản lý quan tâm. Để sử dụng kết quả đánh giá tính DBTT trong xây dựng kế hoạch thích ứng và tích hợp vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thì việc đánh giá tính DBTT cần được triển khai theo đơn vị hành chính (ví dụ cấp xã/huyện cho toàn bộ một huyện/tỉnh) (Nguyễn Thị Bích Yên & cs. Việc đánh giá như vậy sẽ giúp việc phân bổ nguồn lực cũng như xây dựng chiến lược thích ứng phù hợp hơn cho từng huyện/xã (Hoque & cs.
Đã có nhiều nghiên cứu về tính DBTT do BĐKH cho cấp tỉnh (đơn vị huyện), quốc gia (đơn vị tỉnh) hoặc vùng như (Erin & cs., 2014; Nguyễn Thị Bích Yên & cs., 2022; Lưu Đức Cường, 2016; Trần Duy Hiền & cs. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu đánh giá về tính DBTT do BĐKH đối với từng đơn vị hành chính cấp xã cho một huyện. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi lựa chọn thực hiện đề tài: “Xây dựng bản đồ tính dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”. Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để chính quyền địa phương, các nhà quản lý trên địa bàn huyện Văn Yên đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng chống chịu và giảm thiểu các tác động tiêu cực của BĐKH đối với huyện.
Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu 2. Mục tiêu nghiên cứu - Tính toán các chỉ số thành phần của tính dễ bị tổn thương bao gồm: (i) mức độ phơi nhiễm, (ii) mức độ nhạy cảm và (iii) khả năng thích ứng; - Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái từ đó đề xuất giải pháp thích ứng phù hợp trên địa bàn huyện nghiên cứu. Yêu cầu của nghiên cứu - Số liệu điều tra thu thập phải khách quan, trung thực và chính xác; - Các đề xuất đảm bảo tính khách quan có ý nghĩa thực tiễn và phù hợp kết quả nghiên cứu tại địa phương. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Một số khái niệm 1. Biến đổi khí hậu Theo Công ước khung của Liên hiệp quốc về BĐKH, BĐKH là sự thay đổi của khí hậu do hoạt động của con người - trực tiếp hay gián tiếp - làm thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và đóng góp vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được. BĐKH xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu. Theo định nghĩa của Tổ chức Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) trong báo cáo lần thứ tư (AR4) năm 2007, BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong khoảng thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn.
Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008). Tính dễ bị tổn thương Khái niệm về tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua.
Đã có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá tính dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương giữa các ngành, lĩnh vực cũng khác nhau (Nguyễn Thanh Sơn & cs. 3 Việc đánh giá tính dễ bị tổn thương là một hệ thống nhằm phân tích các rủi ro từ nguy cơ bên ngoài cũng như nội bộ bên trong của nó. Điều này nhằm mục đích tăng khả năng phục hồi của xã hội bằng cách tăng khả năng chống chịu của những yếu tố dễ bị tổn thương (Zhen Fang, 2009).
Theo Nguyễn Thanh Sơn & Cấn Thu Văn (2012) tổng hợp, có rất nhiều những khái niệm dễ bị tổn thương được sử dụng, có thể chỉ ra 3 trường phái về tính dễ bị tổn thương: (1) Chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa sinh lý bao gồm phân tích điều kiện phân bố các hiểm họa, khu vực hiểm họa mà con người đang sống, mức độ thiệt hại và phân tích các đặc trưng tác động (thảm họa thiên nhiên và dịch bệnh); (2) Chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương liên quan đến xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng dân cư bao gồm cả khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi đối với hiểm họa (đói nghèo); (3) Kết hợp cả hai phương pháp và xác định tính dễ bị tổn thương như là hiểm họa nơi mà chứa đựng những rủi ro sinh lý cũng như những tác động thích ứng của xã hội (BĐKH). Do tính chất phức tạp và ảnh hưởng mạnh mẽ của BĐKH đối với môi trường, sinh thái, xã hội…, đã có rất nhiều nghiên cứu lượng hóa những ảnh hưởng của BĐKH - làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro, tổn thất do BĐKH. Thuật ngữ tính DBTT do BĐKH theo đó ra đời. 4 *Khái niệm tính DBTT do BĐKH của IPCC Bảng 1.1: Khái niệm tính DBTT do BĐKH của IPCC Các báo cáo Khái niệm tính DBTT do BĐKH của IPCC Năm 1992 Mức độ mà một hệ thống không có khả năng đối phó với những hậu quả của BĐKH và nước biển dâng (nước biển dâng).
Năm 1996 Mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ Báo cáo lần thống; không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy cảm của hệ thống thứ 2 (SAR) mà còn phụ thuộc vào năng lực thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới. Định nghĩa này bao gồm sự phơi nhiễm, mức độ nhạy cảm, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của BĐKH. Năm 2001 Mức độ một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội bị nhạy cảm Báo cáo lần với các thiệt hại do BĐKH gây ra. Năm 2007 Là mức độ một hệ thống (sinh thái, kinh tế-xã hội, sản Báo cáo lần xuất…) dễ bị ảnh hưởng và không thể chống chịu trước các tác thứ 4 (AR4) động tiêu cực của BĐKH, bao gồm dao động khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan.
Tính DBTT là một hàm của mức độ phơi nhiễm, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của hệ thống đó. Theo định nghĩa này, khi các biện pháp thích ứng được tăng cường, tính DBTT theo đó sẽ giảm đi. 5 Các định nghĩa này phản ánh sự phát triển về quan điểm nghiên cứu tổn thương thể hiện một cái nhìn toàn diện của xã hội, liên quan đến lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. Nhìn chung, khái niệm tính DBTT được sử dụng phổ biến hiện nay do IPCC đưa ra năm 2007 (Lê Ngọc Tuấn, 2017).
Tính DBTT do biến đổi khí hậu được định nghĩa theo IPCC (2007) là “mức độ mà một hệ thống dễ bị ảnh hưởng hoặc không có khả năng ứng phó với các tác động bất lợi của BĐKH bao gồm cả sự thay đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Tính DBTT là hàm số của tính chất, cường độ và mức độ của các biến đổi và dao động khí hậu mà một hệ thống bị phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống đó”. Như vậy, theo định nghĩa này tính DBTT là hàm số của ba hợp phần phơi nhiễm, nhạy cảm và khả năng thích ứng với BĐKH, được mô tả theo công thức sau: Tính DBTT = f (phơi nhiễm, nhạy cảm, khả năng thích ứng) Trong đó: Phơi nhiễm (E) cho biết mức độ xuất hiện và xu hướng của BĐKH bao gồm cả biến động khí hậu và hiện tượng thời tiết cực đoan - các yếu tố khí hậu cực trị.