Nghiên cứu ảnh hưởng của tính chất bitum đến mô đun động của bê tông nhựa chặt ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của tính chất bitum đến mô đun động bê tông nhựa chặt tại Việt Nam, cung cấp thông tin hữu ích cho ngành xây dựng.

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Xây Dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

157
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng tính chất của bitum đến mô đun động của bê tông nhựa

Trong nghiên cứu này, tính chất bitum được xem là yếu tố quyết định đến mô đun động của bê tông nhựa chặt. Các tính chất vật liệu của bitum như độ nhớt, độ dính bám, và khả năng chịu nhiệt ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chịu tải và độ bền của bê tông nhựa. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ảnh hưởng của bitum đến mô đun động không chỉ phụ thuộc vào loại bitum mà còn vào các yếu tố như nhiệt độ và tần số tác động của tải trọng. Theo các nghiên cứu trước đây, mô đun cắt động của bitum (|G*|) có thể được xác định thông qua các phương pháp như DSR và DMA, từ đó xây dựng đường cong chủ cho mô đun động của bê tông nhựa.

1.1. Tính chất của bitum

Bitum là một loại vật liệu phức tạp, có nhiều tính chất vật lý và hóa học đặc trưng. Tính chất bitum bao gồm độ nhớt, độ dính bám, và khả năng chịu nhiệt. Những tính chất này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng thi công mà còn quyết định đến độ bền và tuổi thọ của bê tông nhựa. Nghiên cứu cho thấy rằng, bitum có độ nhớt cao thường dẫn đến mô đun động thấp hơn, trong khi bitum có độ dính bám tốt sẽ cải thiện đáng kể khả năng chịu tải của bê tông nhựa. Việc phân tích các tính chất vật liệu này là cần thiết để tối ưu hóa thiết kế kết cấu mặt đường.

1.2. Mô đun cắt động của bitum

Mô đun cắt động (|G*|) của bitum là một trong những thông số quan trọng trong việc đánh giá khả năng chịu tải của bê tông nhựa chặt. Các phương pháp xác định |G*| như DSR và DMA đã được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu. Kết quả cho thấy rằng, |G*| có sự thay đổi đáng kể theo nhiệt độ và tần số tác động. Điều này cho thấy rằng, ảnh hưởng của bitum đến mô đun động không chỉ đơn thuần là một mối quan hệ tuyến tính mà còn phụ thuộc vào điều kiện môi trường và cách thức thi công. Việc hiểu rõ về |G*| sẽ giúp các kỹ sư dự đoán chính xác hơn về hiệu suất của mặt đường trong thực tế.

II. Nghiên cứu thực nghiệm và đề xuất sử dụng mô hình 2S2P1D

Nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện để xác định mối quan hệ giữa tính chất bitummô đun động của bê tông nhựa. Mô hình 2S2P1D được đề xuất như một công cụ hữu ích để xây dựng đường cong chủ cho |G*| và góc pha (δb) của các loại bitum. Mô hình này cho phép dự đoán chính xác hơn về mô đun động trong các điều kiện khác nhau. Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng, việc áp dụng mô hình này giúp cải thiện độ chính xác trong việc dự đoán mô đun động của bê tông nhựa chặt tại Việt Nam.

2.1. Lựa chọn vật liệu bitum

Việc lựa chọn loại bitum phù hợp là rất quan trọng trong nghiên cứu này. Các loại bitum khác nhau có tính chất vật liệu khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến mô đun động của bê tông nhựa. Nghiên cứu đã tiến hành phân tích các chỉ tiêu vật lý của các loại bitum được sử dụng trong thực nghiệm. Kết quả cho thấy rằng, bitum có độ nhớt cao và độ dính bám tốt sẽ mang lại hiệu suất cao hơn cho bê tông nhựa. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn đúng loại bitum trong thiết kế kết cấu mặt đường.

2.2. Xác định mô đun cắt động và góc pha của bitum

Xác định mô đun cắt động và góc pha của bitum là bước quan trọng trong nghiên cứu. Các thí nghiệm đã được thực hiện để đo |G*| và δb của các loại bitum. Kết quả cho thấy rằng, có sự tương quan chặt chẽ giữa tính chất bitummô đun động của bê tông nhựa. Việc xây dựng đường cong chủ cho |G*| và δb giúp các kỹ sư có thể dự đoán chính xác hơn về hiệu suất của mặt đường trong điều kiện thực tế. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc thiết kế mà còn trong việc bảo trì và nâng cấp kết cấu mặt đường.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ẢNH HƯỞNG TÍNH CHẤT CỦA BITUM ĐẾN MÔ ĐUN ĐỘNG CỦA BÊ TÔNG NHỰA Bê tông nhựa (BTN) được hình thành bởi sự liên kết cốt liệu – bitum nên các tính chất của vật liệu khoáng hay chất kết dính (bitum) đều có ảnh hưởng tới tính chất của vật liệu BTN. Mặc dù chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong thành phần của hỗn hợp BTN (khoảng 4% - 6% theo tổng trọng lượng hỗn hợp), nhưng tính chất của loại bitum sử dụng mà đặc trưng bởi giá trị mô đun cắt động (|G*| và góc pha (δ) lại có ảnh hưởng rất lớn tới đặc tính của vật liệu BTN mà cụ thể là giá trị mô đun động (Dynamic modulus |E*|). Hiểu rõ được ảnh hưởng tính chất của loại bitum (|G*|) tới mô đun động của BTN (|E*|) sẽ lựa chọn được loại bitum phù hợp trong thiết kế BTN, dự báo được giá trị |E*| căn cứ vào tính chất của loại bitum sử dụng và các thông số khác như (thành phần hạt, các đặc tính thể tích…) phục vụ việc thiết kế mặt đường mềm theo phương pháp cơ học thực nghiệm (phương pháp “ME”) của Hoa Kỳ để nâng cao chất lượng công trình. Các tính chất của bitum (mô đun cắt động |G*|, góc pha δ) cùng với mô đun động của bê tông nhựa là các thông số đầu vào rất quan trọng được sử dụng để phân tích kết cấu mặt đường theo phương pháp (ME) của Hoa Kỳ [32], [65].1 Bitum và tính chất của bitum 1.1 Bitum Bitum (nhựa đường) là vật liệu xây dựng có tính đàn nhớt, ứng xử phụ thuộc vào nhiệt độ và thời gian tác dụng của tải trọng.

Bitum có trạng thái rắn đàn hồi ở nhiệt độ thấp (<0oC), có trạng thái nhớt lỏng khi ở nhiệt độ cao (>100oC) và có tính lưu biến phức tạp khi ở nhiệt độ trung gian [63]. Bitum cũng có nhiều tên gọi khác nhau trên thế giới, hầu hết các quốc gia Châu Âu, dùng thuật ngữ bitum hoặc bitum lọc dầu (refined bitumen) là chủ yếu trong khi đó ở Hoa Kỳ được gọi là asphalt hoặc chất kết dính asphalt (asphalt cement). Ngoài Hoa Kỳ thì thuật ngữ asphalt thường được dùng để mô tả hỗn hợp của bitum với cốt liệu [63]. Theo tiêu chuẩn ngành 22TCN 279-01 [12], thì khái niệm của bitum (nhựa đường) được định nghĩa “nhựa đường đặc dùng cho đường bộ là sản phẩm thu được từ công nghệ lọc dầu mỏ; bao gồm các hợp chất hydrocacbon cao phân tử như CnH2n+2, CnH2n, 8 hydrocacbua thơm mạch vòng (CnH2n-6) và một số dị vòng có chứa oxy, nitơ, lưu huỳnh; ở trạng thái tự nhiên có dạng đặc quánh màu đen”.

Để cải thiện các tính chất của vật liệu bitum, người ta cho thêm các chất phụ gia polymer hữu cơ vào bitum để có vật liệu bitum polymer cải tiến nhằm cải thiện chất lượng bitum như tăng khả năng kháng hằn lún vệt bán, cải thiện khả năng kết dính với cốt liệu, tăng độ bền mỏi ….1 minh họa ứng xử của bitum dưới tác dụng của tải trọng ở các giai đoạn khác nhau.1: Các giai đoạn biến dạng của bitum phụ thuộc vào tải trọng tác dụng [56]. Trong đó: εT – Tổng biến dạng, εrecoverable – biến dạng phục hồi. εe – Biến dạng đàn hồi, có khả năng phục hồi và phụ thuộc vào thời gian. εp – Biến dạng dẻo, không có khả năng phục hồi và phụ thuộc vào thời gian.

εve – Biến dạng đàn nhớt, có khả năng phục hồi và phụ thuộc vào thời gian. εvp – Biến dạng nhớt, không có khả năng phục hồi và phụ thuộc vào thời gian. Như vậy ứng xử của bitum là ứng xử đàn nhớt phụ thuộc vào thời gian tác dụng của tải trọng.2 Các tính chất của bitum Do bitum có tính đàn nhớt và ứng xử phụ thuộc vào nhiệt độ và thời gian tác dụng của tải trọng [56], [63] nên các tính chất của bitum gồm các chỉ tiêu vật lý (độ kim lún, điểm hóa mềm, ….) và các chỉ tiêu cơ học (mô đun độ cứng, mô đun cắt động của bitum |G*|). 9 Các chỉ tiêu vật lý và các chỉ tiêu cơ học được sử dụng để đánh giá chất lượng và phân loại bitum trong xây dựng đường bộ hiện nay.2 Mô đun cắt động (Dynamic shear modulus) của bitum (|G*|) 1.1 Mô đun cắt động của bitum Mô đun cắt động của bitum (|G*|) là giá trị tuyệt đối của mô đun cắt phức của bitum, (complex shear modulus), (G*).

Về bản chất là độ cứng của bitum hay khả năng chống lại biến dạng của bitum dưới tác dụng của tải trọng động hình sin, là tỷ số của giá trị tuyệt đối của ứng suất cắt lớn nhất (τmax) và biến dạng cắt lớn nhất (γmax) [57], [72], [76]. Giá trị mô đun động |G*|, góc pha và độ nhớt của bitum được sử dụng để phân loại bitum theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ [70] và dự báo |E*| của BTN theo các phương trình tương quan thực nghiệm hoặc bán thực nghiệm [39]. Do vậy, trong phạm vi luận án sẽ tập trung nghiên cứu các chỉ tiêu này của bitum.2 Phương pháp xác định mô đun cắt độngcủa bitum Mô đun cắt động của bitum (|G*|) được xác định bằng phương pháp thực nghiệm. Hiện nay trên thế giới sử dụng hai loại thiết bị thí nghiệm để xác định |G*| là thiết bị cắt động lưu biến DSR (Dynamic shear Rheometer) hoặc thiết bị phân tích cơ học động DMA “Dynamic Mechanical Analyzer” [15], [72], [76].1 Xác định |G*| bằng thiết bị DSR Khi thí nghiệm |G*| bằng thiết bị DSR, mẫu bitum được chuẩn bị tới nhiệt độ cần thí nghiệm và đặt giữa hai đĩa song song, một đĩa cố định và một đĩa có thể quay quanh trục thẳng đứng đi qua tâm đĩa, dưới tác dụng của ứng suất tác dụng hình sin, =o.sin(ωt) sẽ sinh ra biến dạng hình sin nhưng bị trễ pha so với ứng suất một góc pha (δ) do tính đàn nhớt của vật liệu bitum, γ=γo.

Giá trị của |G*| sẽ được xác định bằng tỷ số của ứng suất cắt lớn nhất và biến dạng cắt lớn nhất trong thí nghiệm, tức là, |G*|=o/γo. Tần số tác dụng của tải trọng trong thí nghiệm DSR lấy theo tiêu chuẩn AASHTO T 315-12 [72] (10 ±0. Đây là giá trị tần số phù hợp với ứng xử của vật liệu mặt đường dưới tác dụng tải trọng xe chạy phổ biến theo nghiên cứu thực nghiệm. Theo Javed Bari và Matthew W.

Witcza [39], giá trị 10 tần số góc 10rad/s được cho là tương ứng với tần số tác dụng của tải trọng bánh xe xuống mặt đường là 10Hz và giá trị này cũng là giá trị được áp dụng phổ biến trong thí ngiệm xác định hư hỏng mỏi trong thí nghiệm uốn dầm mẫu BTN theo ASTM D7460. Trong trường hợp sử dụng tần số khác để thực hiện thí nghiệm thì yêu cầu tần số sử dụng phải đạt độ chính xác với sai số ±1% [72].2 nêu nguyên lý thí nghiệm của thiết bị DSR và Hình 1.3 minh họa sự trễ pha giữa ứng suất tác dụng và biến dạng trong thí nghiệm DSR. Giá trị của |G*| trong thí nghiệm DSR xác định theo phương trình 1.1 và (|G*|) có thể được phân tích thành hai thành phần (Hình 1.4) gồm mô đun tổn thất G” (thành phần nhớt) và mô đun dự trữ G’ (thành phần đàn hồi).2: Nguyên Lý thí nghiệm cắt động Hình 1.3: Sự trễ pha giữa ứng suất và biến lưu biến (DSR), [76]. dạng trong thí nghiệm DSR [47] G” |G*| G” =|G |.4: Hai thành phần của mô đun cắt động |G*| của bitum [76] τ max |G * |= (1.2) 11 τmax – Giá trị tuyệt đối của ứng suất cắt lớn nhất, (MPa).3) γmax – Giá trị tuyệt đối biến dạng cắt lớn nhất, (%).

h Tmax – Mô men xoắn lớn nhất (N-mm); r – Bán kính đĩa mẫu (mm); θmax – Góc biến dạng lớn nhất, (rad). h - Chiều cao mẫu (mm). |G*| - Mô đun cắt động của bitum, (MPa).2 Xác định |G*| bằng thiết bị DMA Thiết bị thí nghiệm gồm các bộ phận chính là Máy nén DMA, buồng ổn nhiệt để duy trì mẫu ở nhiệt độ thí nghiệm mong muốn và máy tính để điều chỉnh lực tác dụng vào mẫu và ghi lại kết quả thí nghiệm trong quá trình thực hiện. Chi tiết các bộ phận chính của thiết bị DMA như Hình 1.5: Thiết bị thí nghiệm MetraviB tại IFSTTAR [15] Máy nén DMA (Dynamic Mechanical Analyzer) của hãng MetraviB với khả năng của đầu đo lực tác dụng lên đến 450 N (khả năng đo lực tác dụng trong khoảng tần số từ 1 Hz đến 200 Hz), và đầu đo chuyển vị lên đến 500 µm.

Theo tiêu chuẩn của pháp XP-T-66-065 [15], việc thí nghiệm xác định |G*| của vật liệu bitum được thực hiện theo hai hình thức tác dụng lực khác nhau tùy theo phạm vi nhiệt độ thí nghiệm, trong đó: Khi xác định |G*| bằng thiết bị DMA sẽ có hai mô hình tác dụng lực vào mẫu bitum tùy theo khoảng nhiệt độ thí nghiệm. Trong đó, mô hình tác dụng lực theo kiểu kéo- nén (K/N) áp dụng cho việc thí nghiệm mẫu ở các nhiệt độ ≤20oC (Hình 1.6) và mô hình tác dụng lực theo kiểu cắt góc (C/G) áp dụng cho việc thí nghiệm mẫu ở phạm vi các nhiệt 12 độ ≥20oC (hình 1.6: Nguyên lý thí nghiệm mẫu Hình 1.7: Nguyên lý thí nghiệm mẫu bitum dạng kéo-nén [15] Bitum dạng cắt góc [15] Khi tác dụng lực theo mô hình kéo nén (Hình 1.6) thì giá trị mô đun động của bitum (|E*b|) được xác định theo phương trình (1.4) và mô đun cắt động của bitum được xác định theo giá trị mô đun động (|E*b|) theo phương trình quan hệ tương quan gần đúng (phương trình 1.5) với giả thiết ở nhiệt độ cao bitum trở thành vật liệu không chịu nén có hệ số poát xông của bitum xấp xỉ bằng 0. Trong mô hình (C/G) giá trị |G*| được xác định theo phương trình 1. cos  b ; E''  E ' tg b ; Fs  2 và | Eb *| E '2  E "2 Se S  1 2 e   S1  |Eb*|≈ 2|G*|.6) G'cos  b ; G ''  sin  b ;   và | G* | G '2  G "2   R ln   r  Trong phương trình (1.

|Eb*|: Mô đun động của bitum, (Pa) và |G*| mô đun cắt động của bitum, (Pa). |K|: Mô đun độ cứng của bitum (N/m); δb: Độ trễ pha của ứng suất so với biến dạng, (o) H và D lần lượt là chiều cao mẫu và đường kính mẫu, (m) Se: Diện tích mẫu chịu tác dụng của lực trong thí nghiệm (m2). 𝑆𝑒 = 𝜋𝐷 2 /4 S1: Diện tích xung quanh của mặt ngoài mẫu (m2). 𝑆1 = 𝜋DH và 13 Fs: Hệ số điều chỉnh phụ thuộc vào kích thước mẫu  Trong phương trình 1.6 (mô hình C/G): |K| và δb có ý nghĩa như phương trình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh hưởng của tính chất bitum đến mô đun động bê tông nhựa chặt tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa các tính chất của bitum và khả năng chịu lực của bê tông nhựa chặt. Nghiên cứu này không chỉ giúp các kỹ sư và nhà thiết kế hiểu rõ hơn về cách mà bitum ảnh hưởng đến độ bền và độ ổn định của bê tông nhựa, mà còn đưa ra những khuyến nghị quan trọng cho việc lựa chọn vật liệu phù hợp trong xây dựng đường bộ.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến địa kỹ thuật và xây dựng, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu lựa chọn thông số thiết kế cọc đất xi măng xử lý nền đường ở sóc trăng trà vinh, nơi nghiên cứu về thiết kế cọc đất xi măng cho nền đường, hoặc Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật xây dựng công trình thủy nghiên cứu ứng dụng cọc xi măng đất gia cố nền công trình xây dựng trên địa bàn thành phố hội an quảng nam, nghiên cứu ứng dụng cọc xi măng trong xây dựng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp kỹ thuật trong lĩnh vực xây dựng.