Chương 1 Giới thiệu Trong kết cấu thép sử dụng liên kết hàn chịu tải trọng lập, phá hoại mỏi thường xảy ra sớm hơn trước khi thép đạt đến giới hạn bền. Nguyên nhân này được cho là do có sự tồn tại của ứng suất dư và ứng suất tập trung trong liên kết hàn. Vì thế một số phương pháp xử lý bề mặt đường hàn được đưa ra để làm giảm hoặc hạn chế sự ảnh hưởng của ứng suất tập trung và ứng suất dư lên tuổi thọ mỏi của kết cấu. Trong luận văn này sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp xử lý bề mặt bằng cách phun bi sắt đến ứng suất tập trung và ứng suất dư trong liên kết hàn góc của kết cấu thép.1 Giới thiệu chung về hiện tượng mỏi trong liên kết hàn Hàn là phương pháp liên kết phổ biến nhất đối với các kết cấu kim loại ngày nay.
Ứng dụng trong công nghiệp của nó là vô cùng quan trọng và rất nhiều các công trình lớn được thiết kế và lắp dựng trong những thập kỷ qua sẽ không thể thực hiện được nếu không có công nghệ hàn. Ví dụ điển hình như cầu thép, kết cấu tàu thuyền, kết cấu lớn ngoài khơi để khai thác dầu (giàn khoan trên biển). Phân tích cường độ của kết cấu sử dụng liên kết hàn cũng được quan tâm như các loại liên kết khác. Các cơ chế phá hoại khác nhau có thể tránh được thông 1 qua thiết kế phù hợp, việc lựa chọn vật liệu và kích thước tiết diện.
Các tiêu chuẩn thiết kế về chảy dẻo, mất ổn định, từ biến, ăn mòn, và mỏi phải được kiểm tra cẩn thận trong từng điều kiện tải và môi trường cụ thể. Tuy nhiên, một thực tế là mối nối hàn đặc biệt dễ bị phá hoại mỏi khi chịu tải trọng lặp (tải trọng động). Vết nứt do mỏi sẽ hình thành và phát triển trong vùng lân cận của các mối hàn trong quá trình sử dụng hàng ngày ngay cả khi ứng suất động là nhỏ và thấp hơn giới hạn dẻo [8]. Vấn đề trở nên rất rõ ràng nếu kết cấu được tối ưu hóa bằng cách lựa chọn thép cường độ cao.
Lý do cho sự lựa chọn này là để có ứng suất cao hơn và kích thước tiết diện giảm xuống, tận dụng lợi ích của vật liệu có độ bền cao với giới hạn chảy cao. Tuy nhiên, cường độ mỏi của liên kết hàn không phải bị chi phối chủ yếu bởi cường độ của vật liệu cấu thành liên kết, mà chủ yếu bị chi phối bởi kích thước hình học tổng thể và cục bộ của mối nối. Do đó, dù giới hạn chảy tăng cao nhưng cường độ mỏi không cải thiện đáng kể.1 mô tả so sánh sức bền mỏi của mẫu thép tấm trơn, mẫu đục lỗ và mẫu có đường hàn góc theo cường độ, nhận thấy rằng với cường độ càng tăng, thì sức bền mỏi càng tăng ứng với mẫu thép trơn và mẫu đục lỗ, tuy nhiên với mẫu hàn thì sức bền mỏi hầu như không tăng nhiều. Điều này đã nói rõ lên vấn đề phá hoại do mỏi mới là vấn đề chính cần được qua tâm.
Bỏ qua vấn đề này có thể dẫn đến phá hoại do mỏi và kéo theo những hậu quả nghiêm trọng [8].1: Ảnh hưởng của cường độ thép lên sức bền mỏi [1] 2 Một số hình ảnh phá hoại do mỏi trong dầm cầu thép chịu tải trọng lập được minh họa trong hình 1.2: Vết nứt trên dầm cầu có liên kết hàn [2] Hình 1.3: Vết nứt tại sườn gia cường của cầu Marquam , Portland, Oregon [3] 3 1.2 Các nguyên nhân gây phá hoại mỏi 1.1 Cơ chế phá hoại mỏi Phá hoại do mỏi là một hiện tượng tự nhiên của vật liệu kim loại khi chịu tải trọng và ứng suất lặp đi lặp lại, do có sự tách lớp, trượt hoặc xoắn giữa các thớ vật liệu với nhau, dẫn đến những vết nứt nhỏ trong vùng có ứng suất hay biến dạng lớn, dần dần các vết nứt nhỏ này hình thành nên vết nứt lớn hơn rồi dẫn đến phá hoại như hình 1. Một phá hoại do mỏi sẽ bao gồm 3 giai đoạn sau : hình thành vết nứt, phát triển vết nứt và phá hoại cục bộ tiết diện [13].4: Các mode phá hoại do mỏi [4] 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chịu mỏi của kết cấu sử dụng liên kết hàn 1.1 Ứng suất • Ứng suất tập trung Xuất hiện khi có sự thay đổi đột ngột về đặc trưng hình học của cấu kiện như tại các vị trí khe rãnh, khấc, lỗ. Ứng suất tập trung có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố ứng suất trong cấu kiện. Khi chịu tải trong lặp, vùng ứng suất tập trung này sẽ gây nên những biến dạng dẻo cục bộ, từ đó sẽ dẫn đến việc xuất hiện vết nứt gây phá hoại mỏi cho kết cấu.
4 • Ứng suất dư Ứng suất dư sinh ra do quá trình nguội không đồng đều của kết cấu kim loại trong quá trình hàn. Ứng suất dư gây nén nhìn chung sẽ làm tăng khả năng chịu mỏi, ngược lại, ứng suất dư gây kéo sẽ làm tăng ứng suất trung bình, dẫn đến khả năng chịu mỏi giảm và phá hoại sớm.2 Các yếu tố khác • Biên độ ứng suất ∆σ Là độ chênh lệch giữa ứng suất cực đại với ứng suất cực tiểu của tải trọng lặp (Hình 1. Biên độ ứng suất có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển vết nứt tại khu vực lân cận vết nứt [14].5: Ảnh hưởng của biên độ ứng suất [1] • Tần số của tải trọng Các nghiên cứu trước cho thấy tần số của tải trọng không gây ảnh hưởng đáng kể đến cường độ mỏi một cách đáng kể khi biên độ ứng suất ∆σ là nhỏ và có tần số dưới 50Hz , nhưng khi biên độ ứng suất là lớn, sự tăng tầng số có thể gây ra những thay đổi đối với cường độ mỏi [14]. • Đặc trưng hình học Kích thước cấu kiện có ảnh hưởng lên sức bề mỏi của kết cấu theo qui luật tỉ lệ nghịch, sức bền mỏi sẽ giảm khi kích thước tăng.
Ảnh hưởng của kích thước cũng tăng với cấu kiện chịu uốn mỏng, nó có thể làm tăng sức kháng mỏi bởi việc tăng độ dốc biến dạng (strain gradient) so với cấu kiện lớ [1].6: Ảnh hưởng của kích thước hình học [1] • Vật liệu Một cách tổng quát thì sức kháng mỏi phụ thuộc vào đặc trưng vật, nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng, trong những điều kiện lý tưởng thì giới hạn mỏi xấp xỉ 50% giới hạn biền của vật liệu, tuy nhiên, sẽ có rất nhiều nhân tố làm ảnh hưởng đến kết quả trên. Chi tiết được minh họa trong hình 1. • Ảnh hưởng của môi trường Các yếu tố tác động của môi trường cũng là điều quan trọng đối với sức kháng mỏi của kết cấu ví dụ như trong môi trường nước biển, có sự ăn mòn xảy ra, sẽ tác động làm để nhanh tiến trình mỏi từ đó dẫn đến sự phá hoại.7 thể hiện sự ảnh hưởng của yếu tố môi trường lên sức bền mỏi [8]. Trong luận văn này, vấn đề về ứng suất tập trung, ứng suất dư và ảnh hưởng của nó sẽ được quan tâm nghiên cứu.7: Ảnh hưởng của môi trường [5] 1.3 Sơ lược về xử lý bề mặt kết cấu Việc xử lý bề mặt kết cấu thép bao gồm 2 mục đích: • Thứ nhất là xử lý cục bộ đường hàn ở những vị trí nguy hiểm • Thứ hai là xử lý bề mặt toàn bộ kết cấu để phục vụ cho việc sơn bảo vệ kết cấu khỏi bị ăn mòn Việc xử lý cục bộ đường hàn tại vị trí nguy hiểm bằng các phương pháp như đĩa mài, búa rèn, TIG.
có tác dụng cải thiện dạng hình học tại chân đường hàn, làm giảm ứng suất tập trung tại vị trí chân đường hàn, đồng thời giảm ứng suất dư gây kéo hoặc tạo ứng suất dư gây nén nhằm tăng khả năng chịu mỏi của kết cấu. Việc xử lý tổng thể nhằm mục đích làm sạch bề mặt kết cấu cũng như tạo độ nhám của bề mặt để tăng độ bám dính của sơn vào kết cấu. Tuy nhiên, việc xử lý tổng thể này có thể tác động hiệu quả đến việc làm giảm ứng suất tập trung và ứng suất dư trong đường hàn, góp phần tăng tuổi thọ mỏi cho công trình.4 Động lực nghiên cứu Trong tiêu chuẩn Eurocode 3 [15], có trình bày cơ bản về việc thiết kế kháng mỏi cho kết cấu áp dụng phương pháp phân loại nhóm và tra biểu đồ được lập từ những số liệu có được từ thực nghiệm. Còn đối với tiêu chuẩn của Việt Nam TCVN [16] thì cũng có đề cập đến trong thiết kế cầu thép.
Tuy nhiên trong ngành dân dụng, việc xét đến vấn đề mỏi dường như không được quan tâm đến trong khi dầm cầu chạy trong nhà công nghiệp cũng được xem như là kết cấu chịu tải trong động hay kết cấu có đặt máy công nghiệp. Bên cạnh đó, việc tra bảng phân loại nhóm và biểu đồ này không mang tính cụ thể, chỉ áp dụng cho kiểu liên kết khi cần đánh giá tuổi thọ mỏi, nó không kể đến kích thước đường hàn và hình dáng bề mặt của liên kết cũng như ứng suất dư tồn tại trong đó [8]. Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hiện tượng phá hoại mỏi của liên kết hàn nói chung hay ảnh hưởng của ứng suất tập trung và ứng suất dư tại đường hàn là một đề tài rất hay, đã được nhiều tác giả nổi tiếng nghiên cứu từ nhiều thập niên trước, và được xem như các chuyên gia đầu ngành về hiện tượng mỏi trong kết cấu, cụ thể như Maddox [1], Neuber H. Tuy nhiên ở Việt Nam, những nghiên cứu về lĩnh vực này hầu như chưa có dẫn đến việc tìm hiểu ảnh hưởng của ứng suất tập trung và ứng suất dư tại vị trí đường hàn đến tuổi thọ mỏi của liên kết là điều cần thiết.
Hơn nữa, ảnh hưởng của việc xử lý bề mặt lên hai giá trị ứng suất này như thế nào trong quá trình chuẩn bị cho việc sơn phủ bảo vệ kết cấu cũng chưa được quan tâm. Liệu việc xử lý này có đóng góp cho việc tăng cường tuổi thọ mỏi của liên kết hay không, sẽ được làm rõ trong nghiên cứu này. Đối với các dầm có chiều cao lớn, hay tại những vị trí lực tập trung, nơi có giá trị ứng suất nguy hiểm, người ta thường hàn thêm sườn gia cường để đảm bảo sự ổn định của kết cấu trong quá trình làm việc. Tuy nhiên đường hàn tại đây là nơi có nguy cơ dễ bị phá hoại mỏi.