chương 1, tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu của luận văn. Chương kế tiếp tác giả tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan về các yếu tố ảnh hưởng đến HQHĐ của các NHTM. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Tổng quan về HQHĐ của ngân hàng 2.1 Khái niệm HQHĐ của ngân hàng Bản chất của HQHĐ của ngân hàng luôn bao gồm hai khía cạnh: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Thứ nhất, hiệu quả kinh tế mà các ngân hàng đạt được sau một thời gian hoạt động trên thị trường được phản ánh qua các chỉ số như lợi nhuận, qui mô ngân hàng, thị phần,…hoặc thông qua các chỉ tiêu như uy tín, hình ảnh đẹp mà ngân hàng xây dựng, sự đa dạng của các sản phẩm được cung ứng trên thị trường,…Thứ hai, về hiệu quả xã hội, các NHTM đã sử dụng các nguồn lực của mình để tăng thu cho ngân sách nhà nước, góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân, phát triển nền kinh tế bền vững thông qua các hoạt động cho vay,…Đặc biệt, trong giai đoạn Covid vừa qua, ngành ngân hàng đã vào cuộc rất sớm với tinh thần “chống dịch như chống giặc”.
Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, khéo léo, góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khi ngân hàng đạt được các hiệu quả kinh tế thì sẽ có nguồn lực vững mạnh, có khả năng giải quyết được các vấn đề xã hội. Ngược lại, khi hiệu quả xã hội đã đạt được, thì ngân hàng sẽ có một môi trường tốt để thúc đẩy hiệu quả kinh tế cao hơn. Vì vậy, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có thể nói là gắn liền nhau và hỗ trợ cho nhau cùng phát triển.
Theo từ điển toán kinh tế, thống kê, kinh tế lượng Anh - Việt của Nguyễn Khắc Minh, hiệu quả được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hoá, dịch vụ”. Như vậy, theo góc độ của ngân hàng, HQHĐ được hiểu là việc sử dụng các yếu tố đầu vào (như nguồn nhân lực, tài chính, công nghệ…) tốt nhất để đạt được tối ưu ở đầu ra (lợi nhuận) và khả năng cạnh tranh gia tăng. Trong 11 HQHĐ ngân hàng, hai tiêu chí được quan tâm hàng đầu đó là khả năng sinh lợi và sự an toàn tài chính. Về khă năng sinh lợi: Các NHTM cũng được xem như là một doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận.
Hoạt động của ngân hàng cơ bản là huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế để cho vay các cá nhân, tổ chức có nhu cầu về vốn phục vụ cho hoạt động đời sống xã hội, hoạt động kinh doanh. NHTM hướng tới mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận thông qua thu nhập từ hoạt động tín dụng, hoạt động phi tín dụng và cố gắng tối thiểu hoá chi phí. Về sự an toàn tài chính: Hệ thống ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Các hoạt động của NHTM thường gắn liền với những rủi ro (rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản,…).
Vì vậy, sự an toàn trong hoạt động ngân hàng luôn là vấn đề được ưu tiên. Greuning & Bratanovic (1999) khẳng định rằng: “Một hệ thống ngân hàng phát triền bền vững dựa trên HQHĐ và nguồn vốn dồi dào. HQHĐ là một chỉ số thể hiện vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng và thể hiện hiệu quả trong quản lý của ngân hàng. HQHĐ cho phép ngân hàng duy trì một mức độ rủi ro nhất định và cung cấp một tấm lá chắn chống lại các rủi ro phát sinh trong ngắn hạn.
Hiệu quả hoạt động, thể hiện qua lợi nhuận giữ lại thường là một trong những nguồn quan trọng bổ sung vào nguồn vốn. Lợi nhuận giữ lại là kết quả cuối cùng cho thấy những tác động ròng của các chính sách và hoạt động ngân hàng trong năm tài chính. Sự ổn định và tăng trưởng của lợi nhuận giữ lại là dấu hiệu biểu hiện tốt nhất về hiệu suất của ngân hàng trong quá khứ và tương lai”. “Hiệu quả hoạt động được đo lường thông qua các chỉ số tài chính như: thu nhập lãi ròng/tổng tài sản, thu nhập ngoài lãi/tổng tài sản, lợi nhuần ròng/tổng tài sản (ROA), lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu (ROE)” (Greuning & Bratanovic, 1999).
12 Tóm lại, trong phạm vi bài nghiên cứu này, HQHĐ ngân hàng được đánh giá theo hiệu quả kinh tế dựa theo các chỉ số như lợi nhuận, qui mô ngân hàng, rủi ro,…Hay nói cách khác là đánh giá mối tương quan giữa lợi nhuận và chi phí mà các NHTM bỏ ra để đạt được kết quả đó.2 Các chỉ số thể hiện HQHĐ của ngân hàng v Lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) Lợi nhuận ròng trên vốn chủ sỡ hữu (ROE) là tỷ số quan trọng đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông ngân hàng. ROE cho biết lợi nhuận ròng được tạo ra từ vốn đầu tư của các cổ đông ngân hàng là như thế nào. Vốn chủ sở hữu cao thể hiện vị thế bền vững và an toàn của ngân hàng. Khi vốn chủ sở hữu thấp hoặc lợi nhuận ròng cao thì ROE sẽ cao.
Tỷ lệ ROE càng cao cho thấy ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn của mình. v Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản bình quân (ROA) là chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả quản lý của ngân hàng. ROA cho thấy khả năng lãnh đạo ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản thành thu nhập ròng. Hay nói cách khác, ROA thể hiện HQHĐ trên một đồng tài sản.
Khi ROA cao cho thấy ngân hàng đã thiết lập một doanh mục tài sản một cách hợp lý để đạt kết quả kinh doanh cao. Ngược lại, ROA thấp có thể là kết quả của việc phân bổ danh mục tài sản chưa hợp lý và hiệu suất sử dụng tài sản thấp. v Thu nhập lãi cận biên (NIM) 13 Thu nhập lãi cận biên được đo lường bằng cách lấy thu nhập ròng từ lãi trừ đi chi phí trả lãi rồi chia cho tổng tài sản. Chỉ tiêu NIM đo lường mức độ chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí từ lãi thông qua sự giám sát chặt chẽ của các nhà quản trị và nhân viên nhân viên ngân hàng trong việc cố gắng duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu nhập và tìm kiếm các nguồn vốn có chi phí thấp.
Thu nhập từ lãi là các khoản thu nhập mà ngân hàng có được từ tài sản như: cho vay, thấu chi, tài trợ thương mại, đầu tư chứng khoán, cho thuê tài chính và các hoạt động cấp tín dụng khác. Chi phí trả lãi bao gồm các khoản chi trả lãi tiền gửi của khách hàng, chi phí trả lãi phát hành giấy tờ có giá và chi phí huy động vốn khác.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến HQHĐ của ngân hàng HQHĐ của ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chất lượng nguồn vốn, quy mô tài sản, quản trị chi phí, chất lượng tín dụng, tăng trưởng tiền gửi, tăng trưởng tín dụng…Nhiều nghiên cứu trước đây đã phân loại các yếu tố có ảnh hưởng đến HQHĐ trên thành 2 nhóm, bao gồm: các yếu tố nội tại và các yếu tố vĩ mô. Yếu tố nội tại là các yếu tố chịu ảnh hưởng bởi các quyết định quản lý và mục tiêu chính sách của ngân hàng. Yếu tố vĩ mô là các yếu tố không liên quan đến các quyết định quản lý ngân hàng.
Trong nghiên cứu này, tác giả xem xét đồng thời ảnh hưởng của các yếu tố nội tại và các yếu tố vĩ mô đến HQHĐ của các ngân hàng.1 Các yếu tố nội tại v Sự an toàn của nguồn vốn Vốn chủ sở hữu hay vốn tự có của ngân hàng là nguồn vốn do các chủ sở hữu đóng góp ban đầu và được bổ sung trong quá trình kinh doanh. Sự an toàn của nguồn vốn được đo lường thông qua tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, đây một trong những tiêu chí 14 quan trọng để đánh giá sức mạnh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ nhưng lại cực kỳ quan trọng. Một ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn sẽ tạo uy tín trên thị trường, ngoài ra còn có thể sử dụng vào các mục đích khác như mua sắm tài sản cố định, mở rộng mạng lưới, đầu tư vào công nghệ kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ.
Bên cạnh đó, khi ngân hàng có rủi ro vỡ nợ, thì vốn chủ sỡ hữu sẽ được dùng làm nguồn thanh toán cho khách hàng. Vì vậy , một ngân hàng có vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản lớn thì sẽ hoạt động có hiệu quả hơn. v Hiệu quả trong quản lý chi phí Tỷ lệ chi phí trên tổng thu nhập được sử dụng như chỉ số đo lường chi phí hoạt động của ngân hàng. Chi phí hoạt động ngân hàng bao gồm: các khoản chi nộp thuế, phí lệ phí, chi phí lương nhân viên, chi về tài sản, chi phí quản lý công vụ, chi phí dự phòng (trừ dự phòng rủi ro tín dụng) và chi phí hoạt động khác.
Lợi nhuận bằng thu nhập trừ đi chi phí, nếu chi phí càng cao thì lợi nhuận càng thấp, ảnh hưởng đến HQHĐ của ngân hàng. Theo nghiên cứu của Aleksiou & Sofoklis (2009) và Zeitun (2012) đã tìm thấy mối quan hệ nghịch giữa tỷ lệ chi phí trên tổng thu nhập với HQHĐ của ngân hàng, nghĩa là với tỷ lệ chi phí trên tổng thu nhập càng cao thì sẽ càng ảnh hưởng tiêu cực tới HQHĐ của ngân hàng. v Dự phòng rủi ro tín dụng Tín dụng là một trong những hoạt động truyền thống mang lại thu nhập cho các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, tín dụng lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro không lường trước được.
Vì vậy, để đảm bảo an toàn, các nhà quản trị luôn phải ước tính được những khoản tổn thất tín dụng để trích lập dự phòng rủi ro. Dự phòng rủi ro là một khoảng không chi bằng tiền nhưng nó lại có tác động trực tiếp đến chi phí, lợi nhuận của một ngân hàng. Chỉ số này càng cao cho thấy chất lượng tín dụng càng thấp, nguy cơ ngân hàng đối mặt 15 với tình trạng khó thu hồi nợ, đe dọa đến lợi nhuận của ngân hàng và sẽ dẫn đến HQHĐ sẽ thấp.