CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ CUNG TIỀN ĐẾN LẠM PHÁT 1.1 Lý do chọn đề tài Lạm phát là hiện tượng tăng mức giá chung và không được mong đợi do tác động bất lợi của nó đến tiêu dùng, đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, ổn định giá cả hay kiểm soát lạm phát luôn là mục tiêu hàng đầu trong chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương. Trong các yếu tố tác động đến lạm phát, hai yếu tố quan trọng được nhắc đến nhiều nhất là thâm hụt ngân sách và cung tiền. Về mặt lý thuyết, có nhiều quan điểm trái chiều giải thích về tác động của thâm hụt ngân sách và cung tiền đến lạm phát.
Theo quan điểm của trường phái trọng tiền cho rằng trong dài hạn ngân hàng trung ương có thể kiểm soát tỷ lệ lạm phát mục tiêu nếu kiểm soát được cung tiền. Nhà kinh tế học Milton Friedman cũng cho rằng “Lạm phát ở đâu và khi nào cũng xuất phát từ những nguyên nhân tiền tệ”. Theo khuôn khổ lý thuyết trên thì thâm hụt ngân sách chỉ dẫn đến lạm phát nếu việc tài trợ thâm hụt được thực hiện thông qua việc phát hành tiền. Quan điểm Keynes lập luận rằng thâm hụt ngân sách dẫn đến lạm phát thông qua việc kích thích tổng cầu và làm tăng lãi suất thực.
Trong khi đó quan điểm Ricardo lại cho rằng thâm hụt ngân sách không làm thay đổi tổng cầu, lãi suất và mức giá vì các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế đều dự đoán được việc chính phủ giảm thuế trong hiện tại sẽ được bù đắp bởi sự tăng thuế trong tương lai (Barro,1989). Không những tồn tại sự khác nhau trong các quan điểm lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát mà ngay cả các nghiên cứu thực nghiệm khi xem xét mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách, cung tiền và lạm phát cũng đưa ra kết quả trái ngược nhau. Trong khi một số nghiên cứu đưa ra bằng chứng tồn tại mối quan hệ giữa thâm hụt, cung tiền và lạm phát như Yaya Keho (2020), Nguyễn Văn Bổn (2015), Ignacio Lozano (2008) thì một số khác lại không tìm thấy mối quan hệ giữa thâm hụt và lạm phát, hay cung tiền và lạm phát, như nghiên cứu của Tiwari và cộng sự (2015), Hondroyiannis và 2 Papapetrou (1997) hay trong bài báo “Rapid money supply growth does not cause inflation” của Richard Vague (2020). Hiện nay, các nghiên cứu đang phát triển theo hướng xem xét đồng thời mối quan hệ giữa ba yếu tố thâm hụt ngân sách, cung tiền và lạm phát.
Tuy nhiên, có ít nghiên cứu được tiến hành cho các quốc gia đang phát triển trong khu vực châu Á. Đối với các quốc gia đang phát triển với nhu cầu cao về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội thì ngân sách chính là công cụ cốt lõi để các quốc gia thực hiện mục tiêu đầu tư nói riêng và mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững nói chung. Do đó, việc các quốc gia này luôn trong tình trạng thâm hụt ngân sách và phải mở rộng cung tiền là điều không thể tránh khỏi. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới WorldBank, tỷ lệ thâm hụt ngân sách và cung tiền trung bình so với GDP năm 2020 của các quốc gia này lần lượt là 3.1% trong đó các quốc gia có tỷ lệ thâm hụt cao như Việt Nam 6.7% và tỷ lệ tăng cung tiền cao ở các quốc gia China 208.5% và Thái Lan 127.
Do đó, việc tìm hiểu xem trước tình trạng thâm hụt ngân sách cũng như biến động trong cung tiền ở các quốc gia đang phát triển châu Á như hiện nay có thực sự gây ảnh hưởng bất lợi đến lạm phát hay không trở thành một câu hỏi đáng quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu mà cả các nhà làm chính sách nữa. Bài nghiên cứu tiến hành xem xét ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách và cung tiền đến lạm phát ở các quốc gia đang phát triển khu vực châu Á bao gồm Bangladesh, Cambodia, China, Indonesia, Jordan, Malaysia, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Thailand và Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1997-2020 bằng phương pháp ước lượng GMM.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Bài nghiên cứu tìm kiếm bằng chứng về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách và cung tiền đến lạm phát thông qua trường hợp cụ thể tại các quốc gia đang phát triển 3 khu vực châu Á. Qua đó, đưa ra những gợi ý chính sách cho các quốc gia đang phát triển trong khu vực. Để đạt được các mục tiêu trên, bài nghiên cứu tập trung làm rõ vấn đề sau: • Thâm hụt ngân sách và cung tiền có ảnh hưởng đến lạm phát ở các quốc gia đang phát triển khu vực châu Á không? 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Đề tài xem xét các vấn đề lý thuyết cũng như bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách và cung tiền đến lạm phát.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu 11 quốc gia đang phát triển khu vực châu Á với bộ dữ liệu về lạm phát, thâm hụt ngân sách, cung tiền, chi tiêu chính phủ, lãi suất, độ mở tài chính trong giai đoạn từ năm 1997-2020.4 Phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu thực hiện nghiên cứu định lượng trên dữ liệu bảng bằng phần mềm Stata 12, sử dụng phương pháp Pooled OLS, Fem, Rem, đồng thời kiểm định các khiếm khuyết của mô hình hồi quy gồm hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan, nội sinh. Sau đó, sử dụng mô hình GMM để khắc phục các khiếm khuyết của mô hình nhằm đưa ra kết quả định lượng đáng tin cậy. Nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu về lạm phát, thâm hụt ngân sách, cung tiền, và một số biến kiểm soát bao gồm chi tiêu chính phủ, lãi suất và độ mở tài chính. Đặc biệt, trong khi các nghiên cứu trước đây thường xem xét ảnh hưởng của biến kiểm soát độ mở nền kinh tế đại diện bằng biến độ mở thương mại đến lạm phát, bài nghiên cứu trên quyết định lựa chọn thay thế biến độ mở thương mại bằng biến độ mở tài chính, đo lường bằng chỉ số KAOPEN là một điểm mới của đề tài trong cách tiếp cận về hướng lựa chọn biến kiểm soát trong nghiên cứu về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách và cung tiền đến lạm phát.
Nguồn dữ liệu từ trang 4 web của Ngân hàng thế giới Worldbank và Quỹ tiền tệ thế giới International Monetary Fund.5 Ý nghĩa khoa học của đề tài Về mặt lý luận, bài nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây liên quan đến mối quan hệ của thâm hụt ngân sách, cung tiền và lạm phát. Về mặt thực tiễn, bài nghiên cứu củng cố thêm bằng chứng về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách và cung tiền đến lạm phát trong trường hợp các quốc gia đang phát triển châu Á bằng mô hình định lượng. Kết quả này giúp các nhà làm chính sách nhìn nhận rõ hơn về chiều hướng tác động này để từ đó hoạch định các chính sách góp phần điều chỉnh về lạm phát mục tiêu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1Lạm phát Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới, lạm phát đã và đang là vấn đề phức tạp đặt ra cho mỗi quốc gia, không chỉ ở các quốc gia đang phát triển mà ngay cả các nền kinh tế phát triển cũng gặp phải.
Lạm phát ở một mức độ nhất định có thể là biện pháp thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. Nhưng khi vượt qua ngưỡng lạm phát mục tiêu có thể trở thành căn bệnh gây tác động xấu đến nền kinh tế. Lạm phát luôn là vấn đề được quan tâm rất nhiều, do đó lạm phát cũng được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau. Mác, Lạm phát là sự tràn đầy các kênh lưu thông các tờ giấy bạc thừa, gây nên sự mất giá của đồng tiền và sự phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
• Theo Samelson, Lạm phát xảy ra khi mức giá chung thay đổi. Khi mức giá tăng lên được gọi là lạm phát, khi mức giá giảm xuống được gọi là giảm phát. Vậy lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian. • Theo Friedman và các nhà kinh tế khác, Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài, lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ - lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ.
Lạm phát thường được đo lường bởi hai chỉ tiêu cơ bản là chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer price index) và chỉ số giảm phát (GDP deflator). CPI dựa trên một rổ hàng hóa tiêu dùng và giá cá của các hàng hóa đó ở hai thời điểm khác nhau. GDP deflator căn cứ vào khối lượng hàng hóa và dịch vụ trong năm và giá cả ở năm hiện hành với năm cố định được chọn làm gốc. CPI có ưu điểm là tính được lạm phát tại bất kỳ thời điểm nào chỉ căn cứ vào rổ hàng hóa, tuy nhiên CPI không thể đo lường lạm phát chính xác do bị tác động bởi hai yếu tố sai lệch của rổ hàng hóa được quy định trước gồm thứ nhất là sai lệch cơ cấu khi rổ hàng hóa chậm thay đổi 6 không tính đến các mặt hàng mới phát sinh nhưng được sử dụng phổ biến; thứ hai là sai lệch thay thế khi giá cả mặt hàng trong rổ gia tăng và người tiêu dùng chuyển sang sử dụng mặt hàng thay thế với giả rẻ hơn nằm ngoài rổ.
Do đó, lạm phát được tính theo CPI có thể dẫn đến dự báo lạm phát quá mức. Đó cũng chính là lý do bài nghiên cứu sử dụng số liệu lạm phát được tính theo GDP deflator. Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát bao gồm: • Lạm phát do cầu kéo hay là sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu hàng hóa dịch vụ. Nguyên nhân này gắn liền với sự gia tăng trong tổng cầu của nền kinh tế, qua đó gây áp lực lên lạm phát.
Cầu kéo có thể do các vấn đề liên quan đến tiền tệ hoặc do việc thực hiện chính sách tài khóa dẫn đến thâm hụt cao, hoặc do tình trạng đầu cơ tài sản. • Lạm phát do chi phí đẩy, xảy ra khi có tác động của các yếu tố bên ngoài không gắn với tổng cung và cầu của nền kinh tế như các cú sốc về giá đối với các mặt hàng như xăng dầu.