Mở đầu. Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tế của nghiên cứu. Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày các cơ sở lý thuyết, tổng quan về tình hình TMĐT ở Việt Nam, giới thiệu về mô hình và một số nghiên cứu trước đó.
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu. Mục tiêu của chương này là đưa ra các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Trong chương này, thang đo, cách chọn mẫu, cỡ mẫu cũng sẽ được xây dựng; đồng thời xây dựng mô hình nghiên cứu, định nghĩa các biến độc lập và các biến phụ thuộc. Chương 4 – Kết quả nghiên cứu.
Trong chương này sẽ trình bày kết quả phân tích và xử lý dữ liệu đã thu thập bằng phần mềm SPSS và AMOS. Sau đó đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá, và thảo luận kết quả. Chương 5 – Kết luận và khuyến nghị. Chương này sẽ đưa ra một số kết luận từ các kết quả phân tích được ở chương 4, đồng thời nêu ra một số hạn chế của đề tài.
Và cuối cùng đề xuất một số giải pháp giúp Lazada cải thiện được những yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin dẫn đến ý định mua lặp lại của người tiêu dùng trực tuyến qua lazada. Ảnh hưởng của niềm tin đến ý định mua lặp lại qua lazada.vn của người tiêu dùng Chương 2 – Cơ sở lý thuyết 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Niềm tin Có nhiều định nghĩa khác nhau về niềm tin, và ở mỗi khía cạnh, mỗi lĩnh vực khác nhau thì niềm tin cũng được hiểu khác nhau. Nó là một khái niệm xã hội phụ thuộc đa chiều vào bối cảnh và có liên quan rất nhiều vào hoàn cảnh của sự tương tác, nó chứa cả hai khuynh hướng hành vi và các yếu tố nhận thức (Gefen và Straub, 2004).
Có thể kể ra một vài định nghĩa về niềm tin như: Theo Moorman và cộng sự (1992), niềm tin là “sự sẵn sàng dựa vào đối tác mà người đó tin tưởng”. Theo Morgan và Hunt (1994), cho rằng niềm tin chỉ tồn tại khi một bên tin cho rằng đối tác của họ đáng tin cậy và có tính chính trực. Theo Gefen (2000), trong bối cảnh của TMĐT, niềm tin được định nghĩa như là một cấu trúc đơn chiều giải quyết sự đánh giá của khách hàng mà người bán là đáng tin cậy. Theo Delgado và cộng sự (2003), niềm tin vào thương hiệu là cảm giác an tâm của người tiêu dùng với thương hiệu đó, người tiêu dùng nhận thức được rằng thương hiệu đó đáng tin cậy và nhà cung cấp có trách nhiệm về các quyền lợi và phúc lợi dành cho họ.
Theo Luhmann’s định nghĩa niềm tin như là một cơ chế làm giảm sự phức tạp xã hội để hướng đến sự sẵn sàng phụ thuộc vào người bán. Sự sẵn sàng này có nguồn gốc từ việc nhận thức rằng người bán sẽ thực hiện những cam kết của họ (Luhmann, 1979; trích bởi (Gefen và Straub, 2004)). Còn theo Chang và cộng sự (2013) thì niềm tin là một trạng thái tâm lý cho phép một người chấp nhận sự tổn thương dựa trên những kỳ vọng tích cực về những ý định hoặc hành vi của người khác. Ảnh hưởng của niềm tin đến ý định mua lặp lại qua lazada.vn của người tiêu dùng Chương 2 – Cơ sở lý thuyết 8 Theo Wang và Emurian (2005), trong bối cảnh của TMĐT thì niềm tin có bốn đặc điểm nổi bật được các nhà nghiên cứu quan sát và chấp nhận: + Người ủy thác và người được ủy thác (Trustor and trustee): Giữa người ủy thác và người được ủy thác luôn luôn có một mối quan hệ liên kết về niềm tin, một bên tin tưởng (người ủy thác) và một bên tin cậy (người được ủy thác).
Niềm tin tỷ lệ thuận với những hành động của người được ủy thác vì lợi ích tốt nhất cho cả hai bên. + Tính dễ tổn thương (Vulnerability): Niềm tin liên quan đến việc dễ bị tổn thương. Niềm tin chỉ cần và thật sự cần thiết trong một môi trường mà ở đó không có sự chắc chắn và đầy tính rủi ro. Bên ủy thác chịu nhiều rủi ro và có khả năng chịu tổn thất cao hơn bên được ủy thác.
+ Thúc đẩy hành động (Produced actions): Niềm tin sẽ thúc đẩy hành động và chấp nhận rủi ro. Các hình thức của hành động phụ thuộc vào từng tình hình cụ thể, và điều mà người ta quan tâm là tính hữu hình hay vô hình. + Vấn đề chủ quan (Subjective matter): Niềm tin là một vấn đề chủ quan, nó liên quan và ảnh hưởng trực tiếp bởi các yếu tố tình huống và sự khác biệt độc đáo nào đó. Hay nói cách khác, niềm tin của một người phụ thuộc vào từng tình huống cụ thể của họ.
Trong thương mại điện tử, bất kể có bao nhiêu khách hàng trực tuyến tin tưởng một trang website TMĐT, điều này sẽ không ảnh hưởng đến việc có tiếp tục làm kinh doanh với dịch vụ TMĐT hay không. Tuy nhiên, an ninh thông tin, bảo mật và sự tin tưởng hay nói cách khác là niềm tin, là rất quan trọng đối với sự thành công của các dịch vụ thương mại điện tử (Eid, 2011). Niềm tin đối với một website thương mại điện tử có thể được xây dựng thông qua truyền thông mà ở đó có sự hiện diện cao của các yếu tố xã hội (Short và cộng sự, 1976). Sự hiện diện cao của các yếu tố xã hội thường được tìm thấy trong giao tiếp trực tiếp – mặt đối mặt (face to face), trong khi đó sự hiện diện của các yếu tố xã hội Ảnh hưởng của niềm tin đến ý định mua lặp lại qua lazada.vn của người tiêu dùng Chương 2 – Cơ sở lý thuyết 9 thấp được tìm thấy trong các phương tiện truyền thông như email, truyền hình, hay thậm chí trên thư giấy (Zmud và cộng sự, 1990).
(2000) có ba yếu tố chính tạo ra sự lo lắng, thiếu niềm tin cho người mua hàng trực tuyến là (1) thiếu kinh nghiệm mua hàng qua website; (2) an ninh và gian lận, một số thông tin của người mua hàng trực tuyến khi cung cấp cho website có nguy cơ bị đánh cắp và lợi dụng; (3) tính riêng tư, khi người tiêu dùng cung cấp những thông tin trên website, họ luôn lo sợ các chính sách bảo mật của website không được đảm bảo. Và khi người mua hàng thiếu niềm tin sẽ là một trở ngại quan trọng cho sự thành công của thương mại điện tử (Dayal và cộng sự, 2001). Có thể thấy, niềm tin là yếu tố tác động mạnh đến sự thành công của TMĐT, nó được xem là một yếu tố tâm lý được xây dựng qua cả một quá trình lâu dài của lịch sử. Hiểu được những tác động đó, ngày nay hầu hết các doanh nghiệp nói chung và Lazada nói riêng đã luôn không ngừng tìm hiểu và cố gắng tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng, người mua hàng.
Theo Srinivasan (2004), niềm tin là nguyên liệu cốt lõi tạo nên thành công cho TMĐT và nó thúc đẩy người mua hàng trực tuyến tiếp tục gắn bó và thực hiện các giao dịch khác trong tương lai. Niềm tin của người mua hàng sẽ giúp cho doanh nghiệp TMĐT gia tăng doanh thu, gia tăng thị phần và quan trọng không kém là giúp củng cố được thương hiệu. Trên thực tế, khách hàng sẽ ngay lập tức tẩy chay những trang TMĐT, hay người bán nếu họ không còn tin tưởng. Chính vì ảnh hưởng quá lớn đến sự tồn tại của các doanh nghiệp TMĐT hay người bán hàng trực tuyến, mà niềm tin được xem là yếu tố trọng yếu cần có cho cả người bán lẫn người mua, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế TMĐT đang phát triển rất mạnh mẽ.
Hành vi tiêu dùng Hành vi tiêu dùng (hay còn gọi là hành vi của người tiêu dùng) là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các ý định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ (Kotler, 2009). Ảnh hưởng của niềm tin đến ý định mua lặp lại qua lazada.vn của người tiêu dùng Chương 2 – Cơ sở lý thuyết 10 Theo Peter D. Bennet (1988), hành vi của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ. Hair và Carl McDaniel (2000), hành vi của người tiêu dùng là một quá trình mô tả cách thức mà người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và loại bỏ một loại sản phẩm hay dịch vụ.
Người tiêu dùng Theo Khoản 1 Điều 3 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam thì “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức. Ý định mua lặp lại Theo Dodds và cộng sự (1991) cho rằng, ý định mua là một xu hướng hành vi mua sản phẩm của người tiêu dùng, ý định mua này là một khuynh hướng chủ quan. Jones và Sasser (1995) chỉ ra rằng, ý định mua lặp lại là hành vi xuất phát bởi lòng trung thành của người tiêu dùng đối với một thương hiệu mà họ yêu thích, điều này làm cho họ sẽ sử dụng lại thương hiệu đó trong tương lai; Đồng thời, họ có khuynh hướng giới thiệu các sản phẩm yêu thích đó cho những người xung quanh họ. Các lý thuyết về ý định mua 2.
Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) Thuyết TRA được Fishbein (1967) đề xuất đã cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố tốt nhất để dự đoán về hành vi tiêu dùng của khách hàng. Ajzen và Fishbein (1980) đã dựa trên TRA để đưa ra mô hình Thuyết hành động hợp lý (Hình 2. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng yếu tố thái độ và chuẩn chủ quan đã có tác động mạnh đến xu hướng mua của khách hàng. Trong mô hình TRA, thái độ được đo bằng sự cảm nhận về các thuộc tính của sản phẩm.
Trong khi đó, chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người thân quen của khách hàng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, v.) Ảnh hưởng của niềm tin đến ý định mua lặp lại qua lazada.