Đặt vấn đề Feldspar là nguyên liệu chính trong sản xuất các vật liệu ceramic truyền thống như sứ dân dụng, sứ điện, sứ vệ sinh, gạch ốp lát ceramic, gạch ốp lát granit,… Ở nước ta, các mỏ feldspar không phân bố tập trung mà rải rác ở nhiều vùng song tập trung nhiều ở các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang và một số tỉnh phía Nam (Quảng Nam, An Giang). Các mỏ trường thạch tuy nhiều nhưng chất lượng các mỏ thường không cao và không đồng đều. Nhu cầu sử dụng nguyên liệu feldspar ở nước ta rất lớn, yêu cầu chất lượng trung bình đến những loại có chất lượng cao. Đây là nguồn tài nguyên hình thành do các hoạt động phong hóa của vỏ trái đất nên feldspar là vật liệu tự nhiên không tự tái sinh được.
Việc khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên này là vấn đề không chỉ được đặt ra ở nước ta mà đã được đặt ra ở tất cả các nước trên thế giới. Hiện nay, rất nhiều nhà máy trong nước đang phải sử dụng feldspar nhập ngoại. Do vậy, nhu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay không chỉ là nghiên cứu sử dụng các nguồn feldspar hiện có một cách hiệu quả, tìm kiếm các mỏ feldspar có chất lượng cao, ổn định, mà còn là tìm nguyên liệu hoặc phương án thay thế feldspar để chủ động sản xuất. Tro bay là một phụ phẩm đi kèm trong quá tình sản xuất nhiệt điện.
Hiện nay một lượng lớn tro bay đang chỉ được sử dụng với vai trò chôn lấp hoặc để tự do phán tán ra không khí cũng như thôi nhiềm kim loại nặng vào nước, gây ảnh hưởng rất nhiều đến môi trường. Với thành phần hóa học khá tương đồng với feldspar và đất sét, tro bay rất có tiềm năng tiếp cận với ngành công nghiệp ceramic. Tuy nhiên, tro bay nhẹ và có cấu trúc xốp, khi nung khiến sản phẩm co nhiều, nên feldspar không thích hợp làm nguyên liệu thay thế trực tiếp trong sản xuất các loại gạch ceramic và vật liệu xây dựng giá trị cao. Hơn nữa, thành phần hoá học và các tính chất của tro bay thay đổi theo loại than và phương pháp xử lý khí thải của nhà máy nhiệt điện, cho nên nếu sử dụng trực tiếp tro bay vào sản xuất vật liệu ceramic sẽ gây mất ổn định bài phối liệu, khó dự đoán diễn biến của sản phẩm khi nung, ảnh hưởng xấu đến chất lượng của sản phẩm sau nung.
Vì vậy, tro bay cần được biến tính để ổn định thành phần hoá học và sự thay đổi thể tích. Một trong các hướng khả thi và có thể đưa vào sản xuất công nghiệp là frit hoá (chuyển thành pha rắn vô định hình) để có thể áp dụng trong sản xuất các vật liệu ceramic. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng của đề tài các loại frit tổng hợp từ tro bay sử dụng công nghệ đốt than tầng sôi hoàn toàn và các tính chất của xương gạch lát ép bán khô cấp BIIa theo TCVN 11313:2020. Phạm vi nghiên cứu: So sánh nhiệt độ biến mềm, hệ số giãn nở nhiệt của các loại frit.
Thử nghiệm độ nhớt hồ nghiền và các tính chất cơ lý như cường độ mộc, độ co, độ hút nước, và cường độ uốn áp dụng với gạch ceramic được nung trong lò điện có xương bổ sung thêm frit chế tạo từ tro nhiệt điện sử dụng công nghệ tầng sôi hoàn toàn. Mục tiêu của đề tài Chế tạo các loại frit từ tro bay công nghệ đốt than tầng sôi hoàn toàn có thể ứng dụng trong công nghệ sản xuất gạch lát ceramic. Đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ hàm lượng Al2O3/CaO đến các tính chất của frit. Đánh giá ảnh hưởng của các loại frit đến chất lượng sản phẩm gạch gốm ốp lát ép bán khô cấp BIIa theo TCVN trong lò điện thí nghiệm.
Gạch gốm ốp lát ép bán khô I. Giới thiệu về gạch gốm ốp lát ép bán khô Gạch gốm ốp lát ép bán khô là loại gạch gốm ốp lát ceramic được tạo hình bằng công nghệ ép bán khô, mặt trên của gạch được phủ bởi lớp men cùng hoa màu trang trí. Gạch ốp lát ceramic được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong nhiều công trình xây dựng, hoàn toàn có thể sử dụng được trong nhà và ngoài trời. Trên thị trường hiện nay, chúng thường được gọi là gạch ốp ceramic và gạch lát ceramic.
Gạch lát ceramic thường là gạch gốm ceramic ép bán khô đạt cấp BIIa, được sử dụng để lát nền hoặc ốp tường còn gạch ốp ceramic là thường gạch gốm ốp lát ép bán khô đạt cấp BIII thường chỉ dùng để ốp lên tường. Một số chỉ tiêu cơ lý, hóa của các cấp gạch gốm ceramic ép bán khô theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13113:2020 [1] được trình bày trên Bảng I.1: TCVN 13113:2020 đối với gạch gốm ceramic ép bán khô STT Tên chỉ tiêu Cấp BIb BIIa BIIb 1 Độ hút nước trung bình, % 0,5 < E ≤ 3 3<E≤6 6 < E ≤ 10 Của từng mẫu không lớn hơn 3,3 6,5 2 Độ bền uốn, Mpa-không nhỏ hơn 30 22 18 Của từng mẫu không nhỏ hơn 27 20 16 3 Độ cứng bề mặt, thang Mohs 5 5 4 4 Độ chịu mài mòn, mm3 + Đối với gạch không phủ men 175 345 540 + Đối với gạch phủ men 5 Hệ số giãn nở nhiệt dài đến 9 9 9 100°C, 106 C-1 6 Hệ số giãn nở ẩm, mm/m - - 0,6 I. Công nghệ sản xuất gạch lát ceramic Gạch ốp lát ceramic thường được sản xuất từ các nguyên liệu là đất sét, cao lanh, feldspar, các nguyên liệu bán phong hóa. Sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất gạch gốm ốp lát ép bán khô được trình bày trên Hình I.1: Sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất gạch ốp lát éo bán khô Gia công và chuẩn bị phối liệu: Sau khi tính toán phối liệu, các nguyên liệu được định lượng và nghiền trong máy nghiền bi ướt gián đoạn.
Cũng có thể dùng máy nghiền bi ướt liên tục để nghiền mịn, nhưng khi đó phải có hệ thống cân định lượng nguyên liệu liên tục và nguyên liệu phải có tính ổn định cao để đảm bảo tính chất của phối liệu như đã dự định. Khi nghiền cần cho thêm một lượng chất điện giải (thủy tinh lỏng, STPP,…) vào máy nghiền để giảm độ ẩm và tăng độ linh động của hồ liệu đi vào máy sấy phun, nhờ đó giảm tiêu tốn nhiệt để sấy và hiệu suất máy sấy phun tăng lên. Hồ ra khỏi máy nghiền bi cần đạt các chỉ tiêu kỹ thuật sau: • Độ ẩm hồ: 32 - 34% • Tỷ trọng hồ: ≈ 1,7 g/cm3 • Lượng sót sàng 63μm (1 vạn lỗ/cm2): 2-4 %. Hồ phối liệu sau khi trao đổi nhiệt với khí nóng rơi xuống phần chóp của tháp sấy và được tháo ra ngoài cửa tháo ở đáy tháp.
Bột liệu được đi qua sàng thô để tách các cục phối liệu đóng tảng rồi chuyển đến các silo ủ. Bột sau sấy phun có độ ẩm 4 đến 7%. Tạo hình và sấy mộc: Gạch ceramic được tạo hình trên các máy ép thủy lực. Tùy thuộc vào kích thước máy ép, kích thước viên gạch mà mỗi chu kỳ có thể ép được 1, 2, 3, 4,… viên gạch mộc.
Áp lực ép gạch trung bình 300 kG/cm2. Trong 1 phút, máy có thể thực hiện được 8 đến 10 chu kỳ ép. Sau khi tạo hình, gạch mộc được chuyển để sấy khô đến độ ẩm <1%. Thiết bị sấy có thể là sấy đứng hoặc sấy nằm.
Gạch vào sấy có độ ẩm nhỏ nên có thể sấy nhanh trong 1,5 đến 2 giờ với nhiệt độ sấy cao nhất có thể lên tới 200 đến 250°C. 2 Tráng men, trang trí hoa văn: Công đoạn tráng men cho gạch ceramic bao gồm nhiều thao tác nhỏ nối tiếp nhau như thổi bụi, phun ẩm, tráng men, lau cạnh, xoay gạch,… Do đặc thù lò thanh lăn là thiết bị nung nhanh nên tráng men lên bề mặt gạch gồm 2 lớp là men frit engobe và men frit nền. Men frit engobe là lớp men trung gian nằm giữa xương và men nền. Trong quá trình nung nhanh, lớp trung gian giữa xương và men nền chưa kịp hình thành, lớp men lót có vai trò hạn chế ứng suất có thể gây bong, nứt men do sự khác biệt hệ số giãn nở nhiệt giữa xương và lớp men nền.
Thiết bị tráng men thông dụng là tráng men chuông. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp người ta còn sử dụng các loại thiết bị tráng men khác như thiết bị men văng, thiết bị tráng men khô,… để tạo một số hiệu ứng trang trí cho bề mặt lớp men. Trang trí hoa văn trên bề mặt gạch đã tráng men được thực hiện bằng các thiết bị in lưới, in rulo, in phun kỹ thuật số,…[2]. Nung sản phẩm: Lò nung gạch lát hiện nay là lò nung thanh lăn hoàn toàn tự động với nhiệt độ nung trong khoảng từ 1100°C (gạch ốp) đến 1200°C (gạch lát).
Chiều dài lò dao động từ 60m đến 110m và chiều rộng hữu ích từ 1,45 ÷ 2,45m. Nhiên liệu được sử dụng cho lò là nhiên liệu không tro như khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), khí thiên nhiên (LNG), khí hóa than, hoặc nhiên liệu không tro khác. Môi trường nung là môi trường oxi hóa. Thời gian nung phụ thuộc vào kích thước viên gạch do gạch có kích thước càng lớn thì càng dày và do đó càng cần nhiều thời gian để truyền nhiệt.
Thời gian nung các gạch kích thước nhỏ là trong khoảng 40-50 phút. Đối với gạch có kích thước 800x800mm thì có thể cần đến hơn 70 phút. Tình hình sản xuất gạch lát ceramic Bảng I.2 trình bày sản lượng sản xuất gạch ốp lát của một số quốc gia trên thế giới trong các năm 2017, 2018, 2019. Trung Quốc là quốc gia dẫn đầu với sản lượng sản xuất chiếm hơn 40% tổng sản lượng sản xuất của toàn thế giới.
Có được điều này là nhờ tận dụng lợi thế tài nguyên thiên nhiên và chi phí nhân công lao động rẻ trong nước. Ngoài ra, thị trường đông dân lớn nhất thế giới cũng là yếu tố thúc đẩy Trung Quốc đi đầu trong sản xuất các mặt hàng tiêu dùng nhằm giảm giá thành sản phẩm, tạo nguồn sản phẩm phục vụ xuất khẩu.