BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ------------ Lê Phú Thịnh ĐA DẠNG GIỚI TÍNH, QUYỀN SỞ HỮU CỦA NHÀ QUẢN LÝ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ------------ Lê Phú Thịnh ĐA DẠNG GIỚI TÍNH, QUYỀN SỞ HỮU CỦA NHÀ QUẢN LÝ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHẤP NHẬN RỦI RO CỦA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng (hướng ứng dụng) Mã số: 8340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ ĐẠT CHÍ TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác. Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình. Người cam đoan Lê Phú Thịnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU TÓM TẮT ABSTRACT Chương 1: Giới thiệu đề tài . Lý do chọn đề tài . Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu . Đối tượng phạm vi và phương pháp nghiên cứu . Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài . Bố cục của đề tài . 6 Chương 2: Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước. Khung lý thuyết về chi phí đại diện . Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực. Chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp . Đa dạng giới tính . Quyền sở hữu của người quản lý . Phát triển nghiên cứu: . 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phát triển giả thuyết: . Ảnh hưởng của sự đa dạng giới tính của thành viên HĐQT đối với việc chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp: . Ảnh hưởng của quyền quản lý đối với chấp nhận rủi ro doanh nghiệp . 15 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu . Mô tả biến . Biến phụ thuộc. Biến độc lập . Biến kiểm soát . Dữ liệu nghiên cứu . Phân tích mẫu quan sát . Mô hình nghiên cứu . Phương pháp định lượng . 26 Chương 4: Kết quả nghiên cứu . Thống kê mô tả . Thống kê mô tả các biến. Tương quan giữa các biến . Kết quả nghiên cứu . Hồi qui phương trình . Phân tích kết quả . 32 Chương 5: Kết luận . 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ LỤC LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1 Tóm tắt mô tả các biến. 21 Bảng 2: Các ngành nghề của mẫu quan sát . 25 Bảng 3: Tỷ lệ nam nữ trong HĐQT của mẫu quan sát . 25 Bảng 4: Tỷ lệ nữ giới trong HĐQT qua các năm . 25 Bảng 5: Quyền sở hữu của nhà quản lý qua các năm từ 2012- 2016 . 26 Bảng 6 thống kê mô tả các biến: . 28 Bảng 7: Ma trận hệ số tương quan: . 29 Bảng 8: Kết quả hồi quy mô hình cho toàn bộ công ty của phương trình . 31 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TÓM TẮT Nghiên cứu của luận văn xem xét về ảnh hưởng giữa sự đa dạng về giới tính trong hội đồng quản trị, quyền sở hữu của nhà quản lý đến việc chấp nhận rủi ro của các công ty Việt Nam. Việc chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp được chú trọng trong các bài nghiên cứu ở các nước phát triển, việc kiểm tra vấn đề này vẫn còn hạn chế ở các nước đang phát triển. Bài luận văn này khảo sát 251 công ty phi tài chính thuộc 9 ngành nghề khác nhau được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ 2012 –2016 để tìm thấy sự ảnh hưởng giữa sự đa dạng về giới tính trong hội đồng quản trị, quyền sở hữu của nhà quản lý đến viêc chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp. Kết quả cho thấy sự đa dạng về giới tính trong HĐQT và sở hữu của người quản lý có ảnh hưởng đáng kể đến việc chấp nhận rủi ro của công ty. Tuy tỉ lệ 2 biến trên vẫn còn thấp ở Việt Nam, trung bình chỉ có 14% HĐQT là nữ giới tham gia và 28% nhà quản lý trong HĐQT là cổ đông lớn của công ty, nhưng 2 biến đó có xu hướng ảnh hưởng ngược hướng đến các quyết định chấp nhận rủi ro của công ty. Nghiên cứu khuyến nghị tăng sự đa dạng giới và quyền sở hữu của người quản lý để làm giảm hành vi chấp nhận rủi ro quá mức của doanh nghiệp. TỪ KHÓA: HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ, ĐA DẠNG GIỚI TÍNH, QUYỀN SỞ HỮU CỦA NHÀ QUẢN LÝ, CHẤP NHẬN RỦI RO. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ABSTRACT The study examined the influence of gender diversity among company boards of directors and managerial ownership on corporate risk-taking of Vietnamese companies. Corporate risk-taking is emphasized in research in developed countries, but the examination of this problem is still limited in developing countries. This sample was 251 non-financial companies in 9 different industries listed on Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) and Hanoi Stock Exchange (HNX) in the period from 2012 - 2016 selected using the purposive sampling method. Data was examined using multiple regression methods. The results showed that the gender diversity in the Board of Directors and the ownership of managers have a significant affect corporate risk-taking decisions. Although the rate of these two variables is still low in Vietnam, only 14% of the Boards have women participating on average and 28% of managers are major shareholders of the company, but they do tend to affect corporate risk-taking decisions. The study recommends increased gender diversity and managerial ownership to reduce corporate risk-taking behavior for real sustainable business. Keywords: Board of directors, corporate risk-taking, gender diversity, managerial ownership LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề tài Chấp nhận rủi ro doanh nghiệp là một biện pháp để cải thiện lợi nhuận của một công ty, hiệu suất sẽ lần lượt tăng và từ đó có lợi cho cổ đông. HĐQT có vai trò quan trọng trong các quyết định của công ty, bao gồm cả rủi ro doanh nghiệp. Việc chấp nhận rủi ro có tác động cùng chiều về sự tăng trưởng dài hạn của công ty (Faccio, Marchica, & Mura, 2011). Ngày nay, các cổ đông có xu hướng bắt đầu yêu cầu hội đồng quản trị đảm nhận vai trò và trách nhiệm ngày càng lớn hơn để hoàn thành mục tiêu của họ bằng cách thông qua đa dạng hóa trong công ty. Sự đa dạng của các thành viên trong hội đồng có thể được đo lường qua các biến sau: tuổi, dân tộc, giới tính, kinh nghiệm, trình độ học vấn và địa vị xã hội (Jackson & Alvarez, 1992; Sessa & Jackson, 1995). Gần đây, sự đa dạng về giới tính ở các cấp quản lý cao hơn đã được quan tâm nhiều hơn vì các bằng chứng thực nghiêm cho thấy nó giúp việc ra quyết định hiệu quả hơn. Nghiên cứu này xem xét vai trò của phụ nữ ở các cấp quản lý cao trong công ty vì số lượng phụ nữ trong HĐQT đã tăng lên hàng năm gần đây. Sự hiện diện của các bóng hồng trong hội đồng quản trị, ban điều hành doanh nghiệp được nhiều quốc gia trên thế giới đặt thành mục tiêu hướng tới, thậm chí được “luật hóa”. Theo báo cáo của hãng kiểm toán Deloitte, Na Uy là quốc gia đầu tiên trên thế giới đưa ra “hạn ngạch” về sự đa dạng giới tính trong hội đồng quản trị và ban điều hành doanh nghiệp từ năm 2013. Cách tiếp cận này đã được nhiều nước Tây Âu khác học tập. Hiện Na Uy cũng là nước có tỷ lệ nữ giới trong hội đồng quản trị cao nhất thế giới, chiếm tới 42% và 7% số ghế chủ tịch của các công ty đang thuộc về lãnh đạo nữ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Trong khi đó, Vương quốc Anh khởi xướng mục tiêu Chính phủ do Lord Davies dẫn đầu, kêu gọi 33% đại diện hội đồng quản trị là nữ giới trên sàn chứng khoán niêm yết FTSE (Financial Times Stock Exchange) vào năm 2020. Tại khu vực châu Á, vấn đề thúc đẩy đa dạng giới trong ban lãnh đạo các doanh nghiệp niêm yết cũng ngày càng được chú trọng hơn. Ví dụ tại Hong Kong, doanh nghiệp niêm yết bắt buộc phải công bố thông tin về chính sách đa dạng giới tính trong ban lãnh đạo và phải giải trình nếu doanh nghiệp không tuân thủ. Quy định đa dạng giới tính trong hội đồng quản trị doanh nghiệp bắt đầu được thực hiện từ tháng 9/2013, sau khi sửa đổi của Bộ luật Quản trị doanh nghiệp Hong Kong. Tại Malaysia, nội các nước này đã thông qua một chính sách vào năm 2011, bắt buộc nữ giới phải chiếm ít nhất 30% các vị trí quản lý hoặc trong hội đồng quản trị của các doanh nghiệp. Tại Singapore, Bộ luật Quản trị doanh nghiệp 2012 yêu cầu doanh nghiệp phải xem xét sự đa dạng như một phần của quá trình đề cử hội đồng quản trị. Hiện bộ luật này đang trong quá trình sửa đổi và làm thế nào để cải thiện sự đa dạng về giới trong hội đồng quản trị là một trong những mục tiêu quan trọng của lần sửa đổi này. Ngoài khía cạnh giới, Laeven và Levine (2009) đã báo cáo rằng trong quá trình quản trị công ty, chấp nhận rủi ro của công ty cũng bị ảnh hưởng bởi cấu trúc sở hữu. Các nghiên cứu trước đây được tìm thấy cấu trúc sở hữu ảnh hưởng đến hoạt động của công ty, điều này sẽ ảnh hưởng đến các mục tiêu tối đa dạng hóa giá trị của nó (Tam & Sze-Tan, 2007; Wahyudi & Pawestri, 2006). Jensen và Meckling (1976) cho rằng một cách để khắc phục vấn đề chi phí đại diện là bằng cách cải thiện cấu trúc quản lý sở hữu để thực thể có thể giảm xung đột lợi ích giữa người quản lý và cổ đông. Wright, Ferris và Awasthi (1996) nhận thấy rằng có một mối quan hệ cùng chiều giữa quyền sở hữu của người quản lý và chấp nhận rủi ro của công ty nếu cổ phần thấp ( ngược lại quyền sở hữu sẽ ngược chiều với chấp nhận rủi ro nếu HĐQT nắm giữ cổ phần cao). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng, việc quản trị rủi ro doanh nghiệp trở thành một yếu tố sống còn đối với sự phát triển bền vững của các công ty. Theo ước tính, trong giai đoạn 2012-2016, chỉ có khoảng 14% thành viên hội đồng quản trị (HĐQT) là nữ giới và trung bình 28% nhà quản lý trong HĐQT đồng thời là cổ đông lớn của công ty. Mức độ đa dạng giới tính và quyền sở hữu của nhà quản lý được xem là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các nghiên cứu về mối quan hệ này tại các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam, còn khá hạn chế.
Luận văn thạc sĩ này tập trung khảo sát 251 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Hà Nội (HNX) thuộc 9 ngành nghề khác nhau trong giai đoạn 2012-2016. Mục tiêu nghiên cứu nhằm làm rõ ảnh hưởng của đa dạng giới tính trong HĐQT và quyền sở hữu của nhà quản lý đến việc chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp. Nghiên cứu không chỉ góp phần bổ sung khoảng trống nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị rủi ro tại Việt Nam mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp, giảm thiểu rủi ro quá mức, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn dựa trên hai lý thuyết chính: lý thuyết chi phí đại diện và lý thuyết phụ thuộc nguồn lực. Lý thuyết chi phí đại diện (Jensen & Meckling, 1976) giải thích xung đột lợi ích giữa người quản lý và cổ đông, trong đó quyền sở hữu của nhà quản lý được xem là công cụ giảm thiểu chi phí đại diện và điều chỉnh hành vi chấp nhận rủi ro. Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Hillman et al., 2000) nhấn mạnh vai trò của HĐQT trong việc kết nối công ty với các nguồn lực bên ngoài, trong đó sự đa dạng giới tính được xem là yếu tố nâng cao chất lượng ra quyết định và giảm thiểu rủi ro.
Ba khái niệm chính được sử dụng trong nghiên cứu gồm:
- Đa dạng giới tính trong HĐQT: Tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT, được xem là nhân tố làm giảm xu hướng chấp nhận rủi ro quá mức.
- Quyền sở hữu của nhà quản lý: Tỷ lệ cổ phần do các thành viên HĐQT nắm giữ, ảnh hưởng đến sự liên kết lợi ích giữa quản lý và cổ đông, từ đó tác động đến hành vi chấp nhận rủi ro.
- Chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp: Được đo bằng độ biến động lợi nhuận trên tài sản (ROA), phản ánh mức độ không chắc chắn trong hoạt động kinh doanh.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu được thu thập từ 251 công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE và HNX trong giai đoạn 2012-2016, đại diện cho 9 ngành nghề khác nhau. Dữ liệu tài chính và thông tin về thành viên HĐQT được lấy từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và các trang web chính thức của công ty.
Phương pháp phân tích chính là hồi quy đa biến với mô hình Fixed Effect (FEM), nhằm kiểm soát các yếu tố không quan sát được theo thời gian và giữa các công ty. Mô hình hồi quy được xây dựng với biến phụ thuộc là mức độ chấp nhận rủi ro (Risk), các biến độc lập gồm tỷ lệ nữ trong HĐQT (Gend), quyền sở hữu của nhà quản lý (Managerial), cùng các biến kiểm soát như lợi nhuận (Profit), đòn bẩy tài chính (Leverage), tăng trưởng doanh thu (Growth), quy mô công ty (Size) và tuổi công ty (Age). Cỡ mẫu 1255 quan sát được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) nhằm đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy của kết quả.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Ảnh hưởng của đa dạng giới tính trong HĐQT đến chấp nhận rủi ro: Tỷ lệ nữ trong HĐQT trung bình là 14,06%, có mối tương quan âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% với biến chấp nhận rủi ro. Điều này cho thấy sự gia tăng thành viên nữ trong HĐQT làm giảm mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp.
-
Ảnh hưởng của quyền sở hữu của nhà quản lý: Trung bình quyền sở hữu của nhà quản lý chiếm khoảng 28,72%. Kết quả hồi quy cho thấy biến này có ảnh hưởng ngược chiều và có ý nghĩa thống kê ở mức 5% đến việc chấp nhận rủi ro, tức là quyền sở hữu lớn của nhà quản lý làm giảm xu hướng chấp nhận rủi ro quá mức.
-
Các biến kiểm soát:
- Lợi nhuận (Profit) có mối quan hệ âm với chấp nhận rủi ro, các công ty có lợi nhuận thấp hơn có xu hướng chấp nhận rủi ro cao hơn (ý nghĩa ở mức 5%).
- Đòn bẩy tài chính (Leverage) cũng có ảnh hưởng ngược chiều, các công ty có đòn bẩy thấp hơn có xu hướng mạo hiểm hơn.
- Quy mô công ty (Size) và tuổi công ty (Age) đều có tác động giảm rủi ro, phù hợp với giả định các công ty lớn và lâu năm có xu hướng thận trọng hơn.
-
Tăng trưởng doanh thu (Growth) không có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi chấp nhận rủi ro trong mẫu nghiên cứu.
Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu phù hợp với lý thuyết chi phí đại diện và lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, đồng thời tương đồng với các nghiên cứu quốc tế tại các nước phát triển và đang phát triển. Sự hiện diện của nữ giới trong HĐQT giúp nâng cao chất lượng ra quyết định, giảm thiểu hành vi chấp nhận rủi ro quá mức nhờ xu hướng thận trọng và không thích rủi ro của phụ nữ. Quyền sở hữu lớn của nhà quản lý tạo ra sự liên kết lợi ích chặt chẽ hơn giữa quản lý và cổ đông, từ đó giảm thiểu hành vi mạo hiểm không cần thiết.
Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ thanh thể hiện tỷ lệ nữ trong HĐQT qua các năm (tăng từ 11,4% năm 2012 lên 16,5% năm 2016) và biểu đồ đường thể hiện xu hướng quyền sở hữu nhà quản lý ổn định quanh mức 28%. Bảng hồi quy chi tiết minh họa mức độ ảnh hưởng và ý nghĩa thống kê của từng biến.
So sánh với nghiên cứu tại Indonesia và Trung Quốc, kết quả tại Việt Nam cho thấy mức độ ảnh hưởng của đa dạng giới tính và quyền sở hữu nhà quản lý rõ ràng hơn, có thể do tỷ lệ sở hữu và tỷ lệ nữ trong HĐQT cao hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát huy vai trò của các yếu tố này trong quản trị rủi ro.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Tăng cường đa dạng giới tính trong HĐQT: Các doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT, đặt mục tiêu tăng từ mức trung bình 14% hiện tại lên ít nhất 25% trong vòng 3-5 năm tới nhằm cải thiện chất lượng ra quyết định và giảm thiểu rủi ro không cần thiết.
-
Khuyến khích quyền sở hữu của nhà quản lý: Doanh nghiệp nên tạo điều kiện để các nhà quản lý nắm giữ cổ phần lớn hơn, qua đó tăng sự liên kết lợi ích giữa quản lý và cổ đông, giảm thiểu hành vi chấp nhận rủi ro quá mức. Mục tiêu có thể là nâng tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý lên trên 30% trong vòng 2-4 năm.
-
Xây dựng chính sách đào tạo và phát triển năng lực quản trị rủi ro: Tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quản trị rủi ro cho các thành