CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề tài Chấp nhận rủi ro doanh nghiệp là một biện pháp để cải thiện lợi nhuận của một công ty, hiệu suất sẽ lần lượt tăng và từ đó có lợi cho cổ đông. HĐQT có vai trò quan trọng trong các quyết định của công ty, bao gồm cả rủi ro doanh nghiệp. Việc chấp nhận rủi ro có tác động cùng chiều về sự tăng trưởng dài hạn của công ty (Faccio, Marchica, & Mura, 2011).
Ngày nay, các cổ đông có xu hướng bắt đầu yêu cầu hội đồng quản trị đảm nhận vai trò và trách nhiệm ngày càng lớn hơn để hoàn thành mục tiêu của họ bằng cách thông qua đa dạng hóa trong công ty. Sự đa dạng của các thành viên trong hội đồng có thể được đo lường qua các biến sau: tuổi, dân tộc, giới tính, kinh nghiệm, trình độ học vấn và địa vị xã hội (Jackson & Alvarez, 1992; Sessa & Jackson, 1995). Gần đây, sự đa dạng về giới tính ở các cấp quản lý cao hơn đã được quan tâm nhiều hơn vì các bằng chứng thực nghiêm cho thấy nó giúp việc ra quyết định hiệu quả hơn. Nghiên cứu này xem xét vai trò của phụ nữ ở các cấp quản lý cao trong công ty vì số lượng phụ nữ trong HĐQT đã tăng lên hàng năm gần đây.
Sự hiện diện của các bóng hồng trong hội đồng quản trị, ban điều hành doanh nghiệp được nhiều quốc gia trên thế giới đặt thành mục tiêu hướng tới, thậm chí được “luật hóa”. Theo báo cáo của hãng kiểm toán Deloitte, Na Uy là quốc gia đầu tiên trên thế giới đưa ra “hạn ngạch” về sự đa dạng giới tính trong hội đồng quản trị và ban điều hành doanh nghiệp từ năm 2013. Cách tiếp cận này đã được nhiều nước Tây Âu khác học tập. Hiện Na Uy cũng là nước có tỷ lệ nữ giới trong hội đồng quản trị cao nhất thế giới, chiếm tới 42% và 7% số ghế chủ tịch của các công ty đang thuộc về lãnh đạo nữ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Trong khi đó, Vương quốc Anh khởi xướng mục tiêu Chính phủ do Lord Davies dẫn đầu, kêu gọi 33% đại diện hội đồng quản trị là nữ giới trên sàn chứng khoán niêm yết FTSE (Financial Times Stock Exchange) vào năm 2020. Tại khu vực châu Á, vấn đề thúc đẩy đa dạng giới trong ban lãnh đạo các doanh nghiệp niêm yết cũng ngày càng được chú trọng hơn. Ví dụ tại Hong Kong, doanh nghiệp niêm yết bắt buộc phải công bố thông tin về chính sách đa dạng giới tính trong ban lãnh đạo và phải giải trình nếu doanh nghiệp không tuân thủ. Quy định đa dạng giới tính trong hội đồng quản trị doanh nghiệp bắt đầu được thực hiện từ tháng 9/2013, sau khi sửa đổi của Bộ luật Quản trị doanh nghiệp Hong Kong.
Tại Malaysia, nội các nước này đã thông qua một chính sách vào năm 2011, bắt buộc nữ giới phải chiếm ít nhất 30% các vị trí quản lý hoặc trong hội đồng quản trị của các doanh nghiệp. Tại Singapore, Bộ luật Quản trị doanh nghiệp 2012 yêu cầu doanh nghiệp phải xem xét sự đa dạng như một phần của quá trình đề cử hội đồng quản trị. Hiện bộ luật này đang trong quá trình sửa đổi và làm thế nào để cải thiện sự đa dạng về giới trong hội đồng quản trị là một trong những mục tiêu quan trọng của lần sửa đổi này. Ngoài khía cạnh giới, Laeven và Levine (2009) đã báo cáo rằng trong quá trình quản trị công ty, chấp nhận rủi ro của công ty cũng bị ảnh hưởng bởi cấu trúc sở hữu.
Các nghiên cứu trước đây được tìm thấy cấu trúc sở hữu ảnh hưởng đến hoạt động của công ty, điều này sẽ ảnh hưởng đến các mục tiêu tối đa dạng hóa giá trị của nó (Tam & Sze-Tan, 2007; Wahyudi & Pawestri, 2006). Jensen và Meckling (1976) cho rằng một cách để khắc phục vấn đề chi phí đại diện là bằng cách cải thiện cấu trúc quản lý sở hữu để thực thể có thể giảm xung đột lợi ích giữa người quản lý và cổ đông. Wright, Ferris và Awasthi (1996) nhận thấy rằng có một mối quan hệ cùng chiều giữa quyền sở hữu của người quản lý và chấp nhận rủi ro của công ty nếu cổ phần thấp ( ngược lại quyền sở hữu sẽ ngược chiều với chấp nhận rủi ro nếu HĐQT nắm giữ cổ phần cao). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về vai trò của đa dạng giới tính và quyền sở hữu của người quản lý đối với rủi ro doanh nghiệp ở các nước phát triển, nhưng không nhiều nghiên cứu tập trung vào các nước đang phát triển như Việt Nam.
Nghiên cứu này xem xét sự đa dạng giới tính và quyền sở hữu của người quản lý có thể làm giảm các vấn đề của xung đột để điều chỉnh lợi ích của cổ đông và quản lý. Giả định rằng các nhà quản lý kiêm chủ sở hữu sẽ có xu hướng nỗ lực nhiều hơn vì lợi ích của công ty. Để chứng minh tầm quan trọng của 2 mối quan hệ này đến các hoạt động doanh nghiệp Việt Nam, tác giả đã đưa ra 2 lý do sau đây. Thứ nhất các công ty Việt Nam là ví dụ điển hình cho sự thống trị của nam giới trong HĐQT.
Kết quả tính toán từ dữ liệu thu thập của tác giả thấy tỷ lệ trung bình của thành viên nữ trong HĐQT chỉ là 14,252%, và chỉ có 2 trong số 1255 quan sát là 100% HĐQT là thành viên nữ. Thứ hai, ở Việt Nam tỷ lệ quyền sở hữu của nhà quả ảnh hưởng đến hoạt động chấp nhận rủi ro của các doanh nghiệp vẫn còn lớn. Cơ cấu cổ đông là vừa là thành viên hội đồng quản trị vừa là cổ đông lớn của công ty ở Việt Nam còn nhiều (28% mẫu quan sát của bài luận văn là thành viên HĐQT cũng là cổ đông lớn ở công ty). Vì thế, câu hỏi được đặt ra là: Có nữ giới trong HĐQT, cũng như thành viên HĐQT là cổ đông lớn có ảnh hưởng đến việc chấp nhận rủi ro của công ty? Để trả lời cho những câu hỏi này, tác giả đã thực hiện bài nghiên cứu “ Đa dạng giới tính, quyền sở hữu cổ phần của nhà quản lý ảnh hưởng như thế nào đến chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp tại Việt Nam ” nhằm xem xét mối liên hệ giữa yếu tố đa dạng giới tính trong HĐQT và quyền sở hữu của nhà quản lý ảnh hưởng đến việc chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp như thế nào? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu Thông qua kết quả thực nghiệm của bài luận văn, tác giả mong rằng sẽ giúp ích cho các doanh nghiệp xem xét được những nhân tố nào là ưu điểm hay khuyết điểm trong việc hành vi chấp nhận rủi ro của công ty. Từ mục tiêu trên, trong bài nghiên cứu tác giả tập trung giải quyết hai câu hỏi chính: - Đa dạng giới tính, tăng thành viên nữ trong HĐQT có làm giảm việc chấp nhận rủi ro hay không? - Quyền sở hữu của nhà quản lý có làm tăng việc chấp nhận rủi ro của công ty hay không? 1. Đối tượng phạm vi và phương pháp nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Bài nghiên cứu này kiểm tra các yếu tố tác động đến mức độ chấp nhận rủi rỏ của doanh nghiệp. Các yếu tố này bao gồm: tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT, tỷ lệ số cổ phần được thành viên HĐQT nắm giữ, ROA, quy mô công ty, số năm thành lập của công ty, đòn bẩy nợ, tốc độ phát triển doanh thu của công ty.
Phạm vi nghiên cứu: Mẫu quan sát bao gồm 251 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn HOSE và HNX trong giai đoạn từ 2012-2016. Phương pháp nghiên cứu: - Thống kê mô tả các biến cho toàn bộ dữ liệu - Phương pháp ước lượng FEM 1. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về vai trò của đa dạng giới và quyền sở hữu của người quản lý đối với rủi ro doanh nghiệp ở các nước phát triển, nhưng không nhiều nghiên cứu tập trung vào các nước đang phát triển như Việt Nam. Đóng góp quan trọng nhất của tác giả tập trung vào 2 nội dung chính: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Thứ nhất, trong khi các nghiên cứu thực nghiệm trước đây ở các nước châu á như Trung Quốc, Indonesia ( những đất nước có nền văn hóa giống Việt Nam) nhận thấy rằng tầm quan trọng của đa dạng giới tính trong HĐQT là một lợi thế giúp DN cải thiện hoạt động quản trị rủi ro (Gul và cộng sự, 2011), và các nghiên cứu khác cũng tìm bằng chứng thấy rằng phụ nữ có cảm xúc và tình cảm mạnh mẽ hơn đàn ông (Harshman & Paivio, 1987); Do đó, họ có xu hướng lo lắng và sợ hãi hơn khi phải đối mặt với kết quả ngược chiều (Brody 1993; Frank Fujita, Ed Diener, & Ed Sandvik, 1991), vì vậy, họ sẽ có xu hướng không thích rủi ro hơn khi đối mặt với một tình huống rủi ro.
Ngoài khía cạnh giới tính, Laeven và Levine (2009) đã phát hiện rằng trong quản lý doanh nghiệp, rủi ro của công ty cũng bị ảnh hưởng bởi cấu trúc sở hữu. Các nghiên cứu trước đây được tìm thấy cấu trúc sở hữu ảnh hưởng đến hoạt động của công ty, điều này sẽ ảnh hưởng đến các mục tiêu tối đa hóa giá trị của nó (Tam & Sze-Tan, 2007; Wahyudi & Pawestri, 2006). Jensen và Meckling (1976) cho rằng một phương pháp để khắc phục vấn đề chi phí đại diện là bằng cách cải thiện cấu trúc quản lý sở hữu để có thể giảm xung đột lợi ích giữa người quản lý và cổ đông. Wright, Ferris và Awasthi (1996) nhận thấy rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa quyền sở hữu của người quản lý và chấp nhận rủi ro của công ty nếu thành viên HĐQT cũng là cổ đông lớn của công ty( nếu tỷ lệ nắm giữ cổ phần của hội đồng quản trị trên 7.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bố cục của đề tài Phần 1: Giới thiệu khái quát: Trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của bài nghiên cứu, cấu trúc bài nghiên cứu. Phần 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu gần đây: Tác giả cung cấp tổng quan các lý thuyết và những nghiên cứu có liên quan trước đây. Phần 3: Dữ liệu và mô hình nghiên cứu: Mô tả tên, ý nghĩa của biến và phương pháp tiến hành nghiên cứu một cách chi tiết nhất.