Chương 1 TONG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LLL. TỔNG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIA CÔNG GỖ VA VAT LIEU GỖ BẰNG CƠ GIỚI 1-L1. SƠ LƯỢC MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CUU TREN THE GIỚI Qué trình cưa xẻ gỗ là quá trình gia công gỗ bằng cơ giới. Cùng với sự: phat triển của gia công gỗ bằng cơ giới, lý thuyết cất gọt gỗ đã ra đời và phát triển không ngừng.
Những người có công trong việc xây dựng và phát triển lý thuyết cắt gọt gỗ phải kể đến các nhà bác học Xô Viết như giáo sư tiến sĩ I. Aphanaxiev, kỹ sư Denpher, giáo sư M. Voskrexenski, giáo su A. Lý thuyết cất gọt gỗ đi sâu nghiên cứu vẻ các lực phát sinh trong quá trình gia công gb bằng cơ giới, công suất của thiết bị, chất lượng sẵn phẩm khi gia công.
những đại lượng này rất cần thiết, chúng làm cơ sở cho việc lựa va chon hình đáng, tính toán kích thước của các công cự cắt, tính toán thiết kế sử dụng hợp lý các thiết bị và cáế công cụ gia công gỗ. Năm 1870, tỷ suất lực cất lần đầu tiên được giáo sư tiến sĩ 1. Time xác định cho các trường hợp cất đơn giản bằng phương pháp thực nghiệm [7]. Nam 1933, giáo sư tiến sĩM.
Đesevôi đã tổng hợp và xây dựng hoàn chỉnh lý thuyết cắt got a8. Nam 1939, ong cho ra đời cuốn sách “Ky thuật gia công gỗ", đó là một công (rình lớn bao gồm các vấn để về lý thuyết và những. kinh nghiệm thực tế trong gia công gỗ mà trên thé giới lúc đó chưa có công. trình nghiên cứu tương tự nào ra đời.
'Tỷ suất lực cắt khi cưa ngang gỗ thông khô ở điều kiện tiêu chuẩn độ ẩm W = 15% đã được kỹ sư A. Dolotarev xác định bằng thực nghiệm. thuộc vào chiều rộng mạch cưa và lượng an gỗ của một răng cưa mà có các trị số tương ứng. Nghiên cứu quá trình cất gỗ theo hướng kết hợp lý thuyết và thực nghiệm đã được các nhà khoa học Mỹ tiến hành như C.Fraz [19] với những kết luận quan trong vẻ sự tạo phôi, các yếu tổ ảnh hưởng tới lực cất.
‘TYsuất lực cất khi cưa ngang và xẻ dọc gỗ đã được giáo sư tiến si A. Bersatski xác định bằng công thức thực nghiệm và tìm ra đồ thị phụ thuộc giữa bể rộng mach cus và lượng ăn gỗ của mot răng cưa năm 1956, Vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX, lý thuyết cất gọt gỗ ngày càng được hoàn chỉnh hơn với những công trình nghiên cứu mới vẻ cắt gọt của các giáo. IVanopski đã ra đời. Lực phát sinh trong quá trình gia công gỗ bằng cơ học được nghiên cứu đẩy đủ hơn và chính xác hơn.
Tỷ suất lực cắt khi cưa gỗ được xác định thông qua công thức lý thuyết GS.Buglai đã nghiên Cứu độ nhấn phẩn lớn các dạng gia công gỗ. Theo khả năng của máy, dao cất và theo yêu cầu của các khâu công nghệ, độ nhấn cao nhất có thể đạt là 16 yuk và thấp nhất là 1600 jk. Ong đã phân thành 10 cấp độ nhấn bé mat gia công [7], [25]. Nguyên lý cấu tạo, tính năng công nghệ của các máy chế biến gỗ nói chung, các máy cưa đĩa nói riêng đã được các nhà khoa học nổi tiếng như E.
nghiên cứu sâu rộng [27], [28], I9), (311. Nhằm không ngtnig-hing cao khả năng làm việc của các lưỡi cua đĩa, nhiều công trình đã đi sâu nghiên cứu động học, động lực học quá trình gia công. Điển hình là các công trình của U. “Chế độ gia công là một trong những vấn dé có tẩm quan trọng, đặc biệt là trong nghiên cứu sử dụng thiết bị cong nghệ.
Chế độ gia công hợp lý góp. phần quyết định đến chất lượng và năng suất gia công. Do vay vấn để này luôn được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà công nghệ, nhà sản xuất, điển hình. vẻ lĩnh vực này có các công trình nghiên cứu A.2, SƠ LƯỢC MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC.
Những nghiên cứu vẻ sự tác động tương hỗ giữa công cụ (dao cất) và đối tượng gia công gồm một số công trình nghiên cứu của các tác giả: T. Hoàng Nguyên và Nguyễn Văn Minh, như: “Gia công cắt gọt gỗ Viet Nam’ “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến lực và độ tù của răng khi xẻ gỗ. 'Việt Nam bằng cưa sọc”. Các tác giả đã xác định tỷ suất lực cất của một số.
loại gỗ Việt Nam, như: Sến, Lim, Sau Sau, khi cắt ngang và gỗ Sến khí xẻ doc. Nghiên cứu về cất gọt ván nhân tạo cũng đã được PGS. Nguyên dé cập trong công trình [7], (8), [9], theo đó một số thông số về công. cụ cất (lưỡi cưa đĩa), vận tốc đẩy khi gia công ván dim, ván sợi ép được tổng.
kết và giới thiệu cho áp dụng trong sản xuất. VE các thiết bị gia công chế biến gỖ nói chung, các máy cưa đĩa sử dụng trong pha phôi ván nhân tạo đã được T. Hoàng Việt giới thiệu trong tài liệu “May và Thiết bị chế biến gổ*{13J, [15], [16]. 'Vấn để miêu tả toán học các quá trình gia công gỗ bằng cơ giới cũng đã được T.
Hoàng Việt để cập trong các chuyên để nghiên cứu, các bài giảng. dành cho học viên cao hoc [14], [I7]. Nghiên cứu về cic m0 hình toán học, thuật toán tối ưu hoá cắt các loại ván gỗ xẻ, ván dim, ván sợi đã được T. Vũ Huy Đại thực hiện trong dé tài luận án [40].
Một số nghiên cứu ứng dụng xác định chế độ gia công gỗ tự nhiên và ván nhân tạo trên các máy cưa đĩa cũng đã được triển khai thực hiện qua các luận văn tốt nghiệp đại học của Trịnh Minh Quy, Nguyễn Văn Đoàn, Nguyễn. KẾT LUẬN 'Từ những vấn để nêu trên, chúng tôi có một số nhận xét như sau: Vé phương diện lý thuyết, quá trình gia công gỗ và ván nhân tạo đã được nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh. Nhiệm vụ mô tả toán học các quá trình gia công gỗ nói chung, cưa đĩa nói riêng phục vụ điều khiển và tối ưu hoá các quá tình công nghệ sin xuất cũng đã được luận chứng giải quyết cho nhiều loại hình gia công ở các nước phát triển trên thế giới. Tuy nhiên với một số loại nguyên liệu là gỗ nhân tạo mà cụ thé là ván MDF được sản xuất từ gỗ rừng trồng ở Việt Nam và đặc biệt trong công nghệ sản xuất sản phẩm mộc từ ván MDF do nhà máy MDF - Gia Lai sin xuất chưa có tác giả nào di sâu nghiên cứu.
Nghiên cứu cắt gọt ván nhân tạo chưa nhiều, muốn thiết kế, cải tiến và sử dụng hợp lý công cụ cất gọt gỗ cũng như chất lượng sản phẩm sau khi gia công với các loại vần MDF, cẩn phải có những nghiên cứu cơ bản và hệ thống hơn; nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà gỗ tự nhiên đang ngày. một cạn kiệt, rừng trồng đóng vai trồ chủ yếu trong việc cung cấp gỗ để sin xuất ván nhân tạo mà cụ thể là ván MDF cho việc sản xuất sản phẩm mộc phục vụ nhu cầu của xã hội. Vì vậy, dé tài * Xác định ảnh hưởng thông số chế độ gia công đến chất lượng sản phẩm trên máy cưa đĩa Model P - 2800 TM ” mà luận văn lira chọn giải quyết là cần thiết. 12 MỤCTIÊUNGHIÊWCÚU “Xác định được ui rường của một số thông số chế độ gia công (vận tốc cắt, vận tốc đẩy, chiều rộng me cưa) đến chất lượng sản phẩm (sai số kích thước, chất lượng thành mạch x8) cho máy cưa đĩa P - 2800 TM khi cắt ván sợi MDF chiều day 20 mm.
“Từ kết quả của để tài để xuất các quy định về thông số chế độ gia công chủ yếu khi sử dụng máy cưa đĩa P - 2800 TM để gia công phôi nguyên liệu ván MDF cho sản xuất đồ mộc gia dụng đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHAM VI NGHIÊN CỨU. - Nguyên liệu: ván MDF Gia Lai, loại chiều day thông dụng 20 mm - Thiết bị: + Máy cưa đĩa Model P - 2800'TM + Lưỡi cưa dùng để cất: Đường kính lưỡi cưa 350 mm; Đỉnh răng cưa có. gá kim loại cứng và có 3 loại chiều rộng me là r = 3,2mm, 3.
~ Sản phẩm gia công là các chỉ tiết của sản phẩm mộc dân dụng. NỘI DUNG NGHITEN CCU Để đảm bảo đạt được mục dich dé ra, những nội dung chính cần tập trung nghiên cứu của luận vănl - Tổng hợp cơ sở lý luận vẻ các quá tình gia công g6, vật liệu gỗ, công nghệ tạo phôi cho sản phẩm mộc. = Nghiên cứu thực nghiệm, xác lập mối tương quan giữa các yếu tố. thuộc chế độ gia công (vận tốc cất, vận tốc diy, chiều rộng me cưa) đến chất lượng sản phẩm (sai số kích thước, chất lượng thành mach xẻ).
Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố cơ bin này tới chất lượng gia công cho các trường hợp nghiên cứu cụ thể, ~ Phân tích kết quiiaghién cứu lý thuyết và thực nghiệm. Để xuất những, biện pháp kỹ thuật sử duØ£ bợp lý máy cưa đĩa Model P ~ 2800 TM khi cit vấn MDF cho các cơ sở sản xuất và đào tạo 15. PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN COU 15. PHƯƠNG PHÁP LÝ THUYET Phương pháp nghiên cứu lý thuyết được sử dụng trong phân tích, tổng hop các công trình nghiên cứu có liên quan để tạo lập cơ sở lý luận giải quyết nội dung thực nghiệm, đánh giá kết quả và đẻ xuất các giải pháp kỹ thuật cho sẵn xuất.
PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIÊM Lua chọn phương pháp thực nghiệm: 'Với phương pháp cổ điển, muốn nghiên cứu ảnh hưởng một nhân tố nào đó người ta đã cố định các nhân tố khác và như vậy số lượng thí nghiệm phải rất nhiều, rất tốn kém và nhiều khi không tìm được sự ảnh hưởng qua lại giữa các yếu tố với nhau Phuong pháp cổ điển chỉ cho phép tìm kiếm các mối phụ thuộc don định giữa các chỉ tiêu đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng một cách riêng biệt. Khi đó, mặc dù trong tay có một tập hợp các phương trình tương quan, nhưng, Vi chúng chỉ là những trường hợp riêng nên không cho kết quả chat chế vẻ mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố trong mối tác động qua lại giữa chúng, cũng như khó có thé tìm kiếm phương án phối hợp tối ưu các yếu tố ảnh hưởng nhằm hướng tới tối ưu hoá quá tril theo mục đích xác định. “Thực tế chứng tỏ rằng quan điểm dùng phương pháp lý thuyết thuần tuý.