CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm cơ bản về tỷ giá hối đoái và hoạt động kinh doanh 1.1 Tỷ giá hối đoái Khái niệm của tỷ giá hối đoái theo sách kinh tế vĩ mô, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ( 2009) NXB Thống Kê: Tỷ giá hôi đoái được hiểu là giá của một loại tiền tệ được biểu hiện qua một loại tiền tệ khác. Nó được coi như là một loại giá quốc tế bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau trong không gian quốc tế. Theo quan điểm của kinh tế học, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng tiền tệ của một nước khác. Hay tỷ giá hối đoái còn được ngầm hiểu là số lượng đơn vị tiền tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ.
Riêng ở Anh và Mỹ, thuật ngữ này còn được sử dụng theo nghĩa ngược lại: số lượng tiền tệ cần thiết để mua được một đồng Đô la hoặc một đồng bảng Anh). Trong lịch sử định nghĩa tỷ giá hối đoái được định nghĩa theo Karl Mark (1818- 1883) - người đầu tiên đưa ra khái niệm tỷ giá hối đoái. Trong bộ “Tư bản”(1858) ông viết: “Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế lịch sử, gắn với giai đoạn phát triển sản xuất của xã hội, tính chất,cường độ tác động của nó phụ thuộc vào trình độ phát triển thị trường và các giai đoạn cụ thể trong lưu thông tiền tệ thế giới”. Đây là một khái niệm khá phức tạp mang nặng tính lý luận hơn nghiên cứu thực tế song cũng đã thể hiện được phần nào tính lịch sử cũng như sự vận động của tỷ giá.
Sau Mark, tỷ giá hối đoái đã được hiểu đơn giản hơn và cho đến nay khái niệm thường được sử dụng nhất là: Tỷ giá hối đoái là giá cả của đồng tiền nước này tính theo đồng tiền nước khác. Điều đó có nghĩa tỷ giá hối đoái cũng là giá cả song giá cả của một loại hàng hóa đặc biệt: tiền tệ.5 theo nghị định của chính phủ về quản lý ngoại hối ban hành ngày 17/8/1998 quy định:” tỷ giá hối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ Việt Nam”. Có thể hiểu đơn giản là số lượng đơn vị tiền tệ Việt Nam cần thiết để mua hay đổi được 1 đơn vị ngoại tệ. Theo giáo trình tài chính quốc tế, học viện tài chính, NXB Tài chính, năm 2002, trang 328: “ Thực chất tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa các đồng tiền và là giá mà tại đó các đồng tiền có thể chuyển đổi cho nhau được” 1.2 Hoạt động kinh doanh Đó là mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh.
“Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi“ (Khoản 2, Điều4, Luật Doanh nghiệp 2005). Hoạt động kinh doanh thực hiện trong nhiều lĩnh vực sản xuất, lưu thông hàng hóa và dịch vụ. Hoạt động kinh doanh là hoạt động bao gồm tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó tuân thủ theo các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa và chịu ảnh hưởng bởi sự tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Hoạt động kinh doanh trong một số trường hợp được hiểu như là hoạt động thương mại. Theo khoản 1 – Điều 3 Luật Thương mại giải thích: hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời , bao gồm các hoạt động mua và bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề làm thế nào giảm chi phí, tăng lợi nhuận và vẫn nâng cao được chất lượng sản phẩm. Đối với các doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu trong kinh doanh cần chú trọng dến các điều kiện nội tại, phát huy được năng lực hiệu quả của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí yêu cầu sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý.
Có thể hiểu một cách đơn giản, hoạt động kinh doanh là hoạt động ra quyết định từ đầu tới cuối của việc kinh doanh trong lĩnh vực nào nhằm duy trì được công việc kinh doanh ổn định, duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp trong tình hình cạnh tranh lẫn nhau ngày nay.2 Một số lý thuyết về tỷ giá hối đoái và hoạt động kinh doanh 1.1 Lý thuyết tỷ giá hối đoái 1.1 Phương thức niêm yết tỷ giá hối đoái Liên quan đến lý thuyết về tỷ giá cần làm rõ thêm về phương thức nhằm niêm yết tỷ giá hối đoái. Một số lưu ý cần biết khi thực hiện hành vi nghiên cứu về cách yết giá trên thị trường như sau: *Tỷ giá là giá của đồng ngoại tệ tính theo đơn vị nội tệ (E). Khái niệm này biểu trưng cho cách yết giá trực tiếp (ngoại tệ/nội tệ). Vì vậy khi mà tỷ giá của đồng ngoại tệ tính theo đơn vị nội tệ tăng giá thì nghĩa là giá trị đồng nội tệ giảm đi còn ngược lại khi mà tỷ giá của đồng ngoại tệ tính theo đơn vị nội tệ mà giảm thì nghĩa là giá của đồng nội tệ tăng lên.
*Tỷ giá là giá cả của đồng nội tệ tính theo ngoại tệ(e). Đây là khái niệm chỉ cách yết giá gián tiếp (nội tệ/ngoại tệ) Trong bài nghiên cứu này lựa chọn nghiên cứu và thể hiện thông tin theo phương pháp yết giá trực tiếp nghĩa là tỷ giá hối đoái là tỷ giá của đồng ngoại tệ đổi được ra bao nhiêu đồng nội tệ.2 Vai trò của tỷ giá hối đoái Quan hệ kinh tế, chính trị, ngoại giao giữa các nước trên thế giới đã phát sinh quan hệ thanh toán quốc tế. Mỗi quốc gia đều có một đồng tiền riêng nên trong giao dịch quốc tế cần phải chuyển đổi đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác theo một tỷ lệ nhất định. Như vậy mọi hoạt động quan hệ quốc tế đều cần phải thông qua tiền tệ, và tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng trong việc xác định giá cả đồng tiền.
Vì vậy tỷ giá hối đoái có vai trò hết sức quan trọng và là chìa khóa trong cánh cửa lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia. Vai trò của nó được thể hiện qua các khía cạnh sau: Đầu tiên là vai trò của sự so sánh các sức mua của các đồng tiền Tỷ giá hối đoái là một công cụ hữu hiệu để so sánh giá trị đồng nội tệ với giá trị của các đồng ngoại tệ, giá cả hàng hóa trong nước với quốc tế, năng suất lao động trong nước với năng suất lao động nước ngoài, vay vốn nước ngoài và hiệu quả của các chính sách kinh tế đối ngoại của nhà nước Thứ hai là đối với hoạt động xuất nhập khẩu Thông qua tỷ giá, nhà nước tác động đến tổng kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại quốc tế. Khi đồng tiền nội tệ mất giá (tỷ giá tăng) thì giá cả hàng xuất khẩu của quốc gia đó trở nên rẻ hơn, sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường quốc tế sẽ được nâng cao. Lúc đấy, mức cầu mở rộng và khối lượng hàng hoá xuất khẩu sẽ gia tăng.
Trong khi đó, giá hàng nhập khẩu từ nước ngoài trở nên đắt hơn, vì vậy hạn chế nhập khẩu. Sự tăng lên của tỷ giá làm nền kinh tế thu được nhiều ngoại tệ, cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế được cải thiện. Ngược lại, nếu giá của đồng nội tệ tăng lên so với đồng ngoại tệ (tỷ giá hối đoái giảm) sẽ làm cho xuất khẩu giảm đi, nhập khẩu tăng lên và cán cân thanh toán trở nên xấu hơn. Ngoài ra nó còn có vai trò khá quan trọng với tình hình lạm phát và tăng trưởng kinh tế Khi sức mua của đồng tiền trong nước giảm đi tức là tỷ giá tăng lên làm cho giá hàng nhập khẩu cao hơn.
Nếu hàng hóa là hàng nhập khẩu để tiêu dùng trực tiếp thì sẽ làm tăng tỷ số giá tiêu dùng trực tiếp. Nếu hàng hóa nhập khẩu dùng trong sản xuất thì làm tăng chi phí sản xuất, làm tăng giá thành sản phẩm. Kết quả cùng là sự tăng lên của chỉ số giá tiêu dùng có thể dẫn đến lạm phát. Nhưng khi tỷ giá tăng lên hàng xuất khẩu sẽ được lợi và phát triển kéo theo sự phát triển của các ngành khác sản xuất trong nước nói chung nhờ vậy thất nghiệp giảm nền kinh tế tăng trưởng.
Ngược lại khi tỷ giá giảm hàng nhập khẩu vào trong nước sẽ rẻ hơn từ đó kiềm chế được lạm phát nhưng lại dẫn đến hoạt động sản xuất bị thu hẹp tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp. Vì vậy, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến quan hệ kinh tế đối ngoại, tình trạng cán cân thanh toán, tăng trưởng kinh tế, lạm phát và thất nghiệp. Khi điều chỉnh tỷ giá hối đoái để thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội, Nhà nước phải xem xét nhiều mặt, tính toán đến nhiều tác động khác nhau, trái chiều nhau của tỷ giá , nhận thức được nạn đầu cơ tiền tệ trên thế giới có thể làm cho nội tệ bất ngờ lên giá hoặc hạ giá do tác động của sự di chuyển các luồng vốn ngoại tệ gây ra làm cho nền kinh tế trong nước không ổn định.3 Nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Sự hình thành của tỷ giá hối đoái là quá trình tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, trực tiếp và gián tiếp. Tuy nhiên ta xem xét những nhân tố cơ bản sau tác động đến tỷ giá: Thứ nhất là nhân tố cung cầu về ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Cung về ngoại tệ bắt nguồn từ các giao dịch quốc tế bao gồm ngoại tệ thu được từ hàng xuất khẩu, kiều hối người Việt Nam chuyển từ nước ngoài gửi về, các nguồn đầu tư từ nước ngoài… trong đó cầu về ngoại tệ xuất phát từ nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài, các khoản đầu tư ra nước ngoài…Khi không có sự can thiệp của NHNN vào thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái được xác định bằng sự cân bằng cung cầu ngoại tệ từ các tài khoản vãng lai và tài khoản vốn của cán cân thanh toán quốc tế.